31 thg 3, 2013



Sáu tuần lễ trôi qua thật căng thẳng. Tiếng gọi hoán cải vang lên dồn dập. Một mùa đền tội, chẳng có chi là “thú vị” lắm! Mọi hình thức trang trí đều bị khống chế. Các nghi thức trong Tuần Thánh vừa qua đầy ắp tính biểu tượng. Những cành lá thiên tuế xếp lại, nhường chỗ cho tấn kịch đau thương. Bữa Tiệc Vượt qua rộn ràng rồi cũng đến hồi tàn, nhường chỗ cho thập giá. Và đêm qua, thập giá nhường chỗ cho lửa mới, dầu mới, nước mới – và sự sống mới.
Rõ ràng là một điều gì đó thật tuyệt diệu đã xảy ra khi người ta bước vào bên trong thánh đường. Họ được chào đón bởi một thánh đường lộng lẫy những dấu hiệu của sự sống mới: những sắc màu rực rỡ và những đóa huệ Phục Sinh xinh tươi. Điệp khúc Alleluia vang vọng dập dìu. Buổi sáng Phục Sinh đã đến rồi!

Đối với nhiều tín hữu – nếu không nói là đa số - đây là cuộc cử hành chính mừng Phục Sinh. Tuy nhiên, trong nhiều giáo xứ, cuộc cử hành chính đã diễn ra tối hôm trước với các nghi thức Canh Thức Phục Sinh. Thánh lễ Phục Sinh vào sáng Chúa Nhật đã xuất hiện trong lịch sử khi cuộc Canh Thức mừng Chúa sống lại được dời lui về buổi sáng ngày Thứ Bảy Thánh.
Bầu khí của buổi sáng Phục Sinh cũng âm vang lại bầu khí của đêm Canh Thức tối hôm trước. Trong buổi sáng này, người ta tưởng niệm và cử hành chính nền tảng của Kitô giáo: Đức Giêsu đã được Phục Sinh từ cõi chết và Ngài là Chúa. Những ai tin và nhận lãnh Phép Rửa đều thông dự vào cuộc Phục Sinh này để hướng tới sự sống mới. Tiêu điểm này sẽ tiếp tục trong năm mươi ngày tiếp theo – tức mùa Phục Sinh.
Thật dễ hiểu tại sao ngay tự ban đầu các Ki tô hữu đã xem khoảnh khắc này là khoảnh khắc linh thánh. Đây chính là khoảnh khắc kỷ niệm buổi sáng hôm nào khi họ cảm nghiệm được rằng Ngài đã sống lại và đang hiện diện giữa họ. Ngài đã chết vào dịp đại lễ Vượt Qua. Và sự sống lại của Ngài đã hoàn thành trọn vẹn ý nghĩa của lễ Vượt Qua theo nhận thức của họ trong tư cách là người Do Thái. Đó là một cuộc xuất hành, một chuyến đi bỏ lại sau lưng ách nô lệ xưa cũ để tiến đến với sự tự do đích thực của tâm hồn. Giêsu, Con Chiên Vượt Qua, đã bị sát tế để đạt đến tự do này.
Sự sống lại của Đức Kitô là dấu chỉ của những khởi đầu mới: một mùa xuân. Ý nghĩa này vốn đã được ghi nhận trong lịch sử của lễ Vượt Qua từ rất lâu trước cuộc Xuất Hành ra khỏi Ai Cập. Tổ tiên của người Do Thái đã cử hành lễ hội mừng hoa quả đầu mùa bằng việc dâng tiến bánh và ngũ cốc, và mừng lứa con đầu tiên của đàn súc vật bằng việc sát tế chiên con. Theo sự chỉ dẫn của Môsê, những lễ hội này được kết hợp lại trong một cuộc tưởng niệm hằng năm về cuộc trốn thoát lạ lùng của họ ra khỏi Ai Cập, và tưởng niệm biến cố thiên thần tru diệt đã vươt qua chứ không ghé vào nhà họ. Ngót 3000 năm và mãi đến hôm nay, người Do Thái vẫn còn cử hành cuộc giải cứu kỳ diệu này bằng việc nhắc lại câu chuyện ngày xưa ấy qua các bài ca, bài đọc và những thức ăn đầy tính biểu tượng: bữa tiệc Chiên Vượt Qua. Ngày nay, cũng như trong suốt dòng lịch sử vẫn thế, nghi thức này diễn ra vào buổi chiều ngày mười bốn tháng Nisan theo lịch Do Thái.

Ngày lễ Phục Sinh
Vào thời sơ khai của Kitô giáo có nảy lên một cuộc tranh luận về việc thiết định ngày Lễ Phục Sinh hằng năm. Một số người, thuộc khuynh hướng Quartodecimans (từ La ngữ có nghĩa là “thứ mười bốn”) cho rằng nên chọn đúng ngày Vượt Qua của Đức Giê su trong lịch sử tức ngày 14 tháng Nisan – và như vậy sẽ thường rơi vào một ngày trong tuần thay vì là Chủ Nhật. Những người khác thì cương quyết bảo vệ quan điểm rằng đó phải luôn luôn là một ngày Chúa Nhật, vì Đức Ki tô đã chỗi dậy từ cõi chết vào ngày thứ nhất trong tuần. Cuộc tranh luận này đã trở thành điểm ưu tiên trong chương trình nghị sử tại Công Đồng Nicêa do Hoàng Đế Constantine triệu tập vào năm 325. Cuối cùng, ngày đó được quyết định là ngày Chúa Nhật tiếp theo sau ngày trăng tròn đầu tiên sau ngày xuân phân. Ở Tây Phương, chỉ có Giáo Hội Celtic tại Anh là từ chối không chấp nhận quyết định ấy cho đến năm 664.

Thánh Lễ Chúa Nhật Phục Sinh
Trong Giáo Hội sơ khai không hề có việc cử hành Lễ Phục Sinh vào ngày Chúa Nhật. Việc cử hành mà ngày nay chúng ta gọi là mừng Lễ Phục Sinh đã diễn ra trong đêm trước Chúa Nhật, tức đêm Canh Thức Mừng Chúa Sống Lại. Thật vậy, Chúa Nhật Phục Sinh chính là Chúa Nhật thứ nhất của mùa Phục Sinh, bởi lẽ Lễ Phục Sinh tự nó đã diễn ra rồi. Thánh Lễ Chúa Nhật Phục Sinh chỉ xuất hiện khi cuộc Canh Thức Phục Sinh được cử hành sớm vào buổi sáng ngày Thứ Bảy Thánh. Không có nghi thức đặc biệt nào gắn riêng với Thánh Lễ Chúa Nhật Phục Sinh ngoại trừ những gì đã được cử hành hết sức trang trọng trong cuộc Canh Thức tối hôm trước: cũng là những bài ca Mừng Chúa Phục Sinh (nhất là điệp khúc Alleluia), cũng là việc cử hành Phép Rửa, cũng là việc cử hành Phép Rửa và nhắc lại lời tuyên hứa Phép Rửa, cũng là việc rảy nước thánh trên cộng đoàn, cũng là cờ quạt trùng giăng và những đóa huệ Phục Sinh mơn mớn.
Không phải tất cả các truyền thống tôn giáo gắn liền với Lễ Phục Sinh đều có nguồn gốc Kitô giáo. Nhưng đa số các truyền thống ấy trải qua các thế kỷ đã nhận được một sự diễn dịch theo tinh thần Kitô giáo. Sắc thái của mùa này rõ ràng khác với sắc thái của Mùa Giáng Sinh. Tuy nhiên, niềm vui cũng rộn ràng không kém; bởi vì đất trời đã vào xuân, bỏ lại sau lưng những tháng mùa đông lạnh giá; bởi vì người ta cảm nghiệm được sự sống lại của riêng mình sau những nỗ lực sống mùa chay tịnh; cũng bởi vì Mùa Chay đầy căng thẳng đã trôi qua.

Con Chiên Phục Sinh
Con Chiên bị sát tế là biểu tượng chính yếu của bữa ăn Vượt Qua. Nó tiếp tục là biểu tượng của Đức Giêsu, Con Chiên Thiên Chúa, bị hành quyết và được Phục Sinh từ cõi chết để đem lại tự do cho tất cả những ai ở trong vòng nô lệ của tội lỗi và của sự mê muội về mặt tinh thần. Con Chiên Phục Sinh đã trở thành một biểu tượng quan trọng trong nghệ thuật Kitô giáo. Việc đưa biểu tượng này vào các kiểu trang hoàng Lễ Phục Sinh và việc nướng bánh Phục Sinh trong hình dạng con chiên cũng đã trở nên một truyền thống quen thuộc.

Phục sinh



Sáu tuần lễ trôi qua thật căng thẳng. Tiếng gọi hoán cải vang lên dồn dập. Một mùa đền tội, chẳng có chi là “thú vị” lắm! Mọi hình thức trang trí đều bị khống chế. Các nghi thức trong Tuần Thánh vừa qua đầy ắp tính biểu tượng. Những cành lá thiên tuế xếp lại, nhường chỗ cho tấn kịch đau thương. Bữa Tiệc Vượt qua rộn ràng rồi cũng đến hồi tàn, nhường chỗ cho thập giá. Và đêm qua, thập giá nhường chỗ cho lửa mới, dầu mới, nước mới – và sự sống mới.
Rõ ràng là một điều gì đó thật tuyệt diệu đã xảy ra khi người ta bước vào bên trong thánh đường. Họ được chào đón bởi một thánh đường lộng lẫy những dấu hiệu của sự sống mới: những sắc màu rực rỡ và những đóa huệ Phục Sinh xinh tươi. Điệp khúc Alleluia vang vọng dập dìu. Buổi sáng Phục Sinh đã đến rồi!

Đối với nhiều tín hữu – nếu không nói là đa số - đây là cuộc cử hành chính mừng Phục Sinh. Tuy nhiên, trong nhiều giáo xứ, cuộc cử hành chính đã diễn ra tối hôm trước với các nghi thức Canh Thức Phục Sinh. Thánh lễ Phục Sinh vào sáng Chúa Nhật đã xuất hiện trong lịch sử khi cuộc Canh Thức mừng Chúa sống lại được dời lui về buổi sáng ngày Thứ Bảy Thánh.
Bầu khí của buổi sáng Phục Sinh cũng âm vang lại bầu khí của đêm Canh Thức tối hôm trước. Trong buổi sáng này, người ta tưởng niệm và cử hành chính nền tảng của Kitô giáo: Đức Giêsu đã được Phục Sinh từ cõi chết và Ngài là Chúa. Những ai tin và nhận lãnh Phép Rửa đều thông dự vào cuộc Phục Sinh này để hướng tới sự sống mới. Tiêu điểm này sẽ tiếp tục trong năm mươi ngày tiếp theo – tức mùa Phục Sinh.
Thật dễ hiểu tại sao ngay tự ban đầu các Ki tô hữu đã xem khoảnh khắc này là khoảnh khắc linh thánh. Đây chính là khoảnh khắc kỷ niệm buổi sáng hôm nào khi họ cảm nghiệm được rằng Ngài đã sống lại và đang hiện diện giữa họ. Ngài đã chết vào dịp đại lễ Vượt Qua. Và sự sống lại của Ngài đã hoàn thành trọn vẹn ý nghĩa của lễ Vượt Qua theo nhận thức của họ trong tư cách là người Do Thái. Đó là một cuộc xuất hành, một chuyến đi bỏ lại sau lưng ách nô lệ xưa cũ để tiến đến với sự tự do đích thực của tâm hồn. Giêsu, Con Chiên Vượt Qua, đã bị sát tế để đạt đến tự do này.
Sự sống lại của Đức Kitô là dấu chỉ của những khởi đầu mới: một mùa xuân. Ý nghĩa này vốn đã được ghi nhận trong lịch sử của lễ Vượt Qua từ rất lâu trước cuộc Xuất Hành ra khỏi Ai Cập. Tổ tiên của người Do Thái đã cử hành lễ hội mừng hoa quả đầu mùa bằng việc dâng tiến bánh và ngũ cốc, và mừng lứa con đầu tiên của đàn súc vật bằng việc sát tế chiên con. Theo sự chỉ dẫn của Môsê, những lễ hội này được kết hợp lại trong một cuộc tưởng niệm hằng năm về cuộc trốn thoát lạ lùng của họ ra khỏi Ai Cập, và tưởng niệm biến cố thiên thần tru diệt đã vươt qua chứ không ghé vào nhà họ. Ngót 3000 năm và mãi đến hôm nay, người Do Thái vẫn còn cử hành cuộc giải cứu kỳ diệu này bằng việc nhắc lại câu chuyện ngày xưa ấy qua các bài ca, bài đọc và những thức ăn đầy tính biểu tượng: bữa tiệc Chiên Vượt Qua. Ngày nay, cũng như trong suốt dòng lịch sử vẫn thế, nghi thức này diễn ra vào buổi chiều ngày mười bốn tháng Nisan theo lịch Do Thái.

Ngày lễ Phục Sinh
Vào thời sơ khai của Kitô giáo có nảy lên một cuộc tranh luận về việc thiết định ngày Lễ Phục Sinh hằng năm. Một số người, thuộc khuynh hướng Quartodecimans (từ La ngữ có nghĩa là “thứ mười bốn”) cho rằng nên chọn đúng ngày Vượt Qua của Đức Giê su trong lịch sử tức ngày 14 tháng Nisan – và như vậy sẽ thường rơi vào một ngày trong tuần thay vì là Chủ Nhật. Những người khác thì cương quyết bảo vệ quan điểm rằng đó phải luôn luôn là một ngày Chúa Nhật, vì Đức Ki tô đã chỗi dậy từ cõi chết vào ngày thứ nhất trong tuần. Cuộc tranh luận này đã trở thành điểm ưu tiên trong chương trình nghị sử tại Công Đồng Nicêa do Hoàng Đế Constantine triệu tập vào năm 325. Cuối cùng, ngày đó được quyết định là ngày Chúa Nhật tiếp theo sau ngày trăng tròn đầu tiên sau ngày xuân phân. Ở Tây Phương, chỉ có Giáo Hội Celtic tại Anh là từ chối không chấp nhận quyết định ấy cho đến năm 664.

Thánh Lễ Chúa Nhật Phục Sinh
Trong Giáo Hội sơ khai không hề có việc cử hành Lễ Phục Sinh vào ngày Chúa Nhật. Việc cử hành mà ngày nay chúng ta gọi là mừng Lễ Phục Sinh đã diễn ra trong đêm trước Chúa Nhật, tức đêm Canh Thức Mừng Chúa Sống Lại. Thật vậy, Chúa Nhật Phục Sinh chính là Chúa Nhật thứ nhất của mùa Phục Sinh, bởi lẽ Lễ Phục Sinh tự nó đã diễn ra rồi. Thánh Lễ Chúa Nhật Phục Sinh chỉ xuất hiện khi cuộc Canh Thức Phục Sinh được cử hành sớm vào buổi sáng ngày Thứ Bảy Thánh. Không có nghi thức đặc biệt nào gắn riêng với Thánh Lễ Chúa Nhật Phục Sinh ngoại trừ những gì đã được cử hành hết sức trang trọng trong cuộc Canh Thức tối hôm trước: cũng là những bài ca Mừng Chúa Phục Sinh (nhất là điệp khúc Alleluia), cũng là việc cử hành Phép Rửa, cũng là việc cử hành Phép Rửa và nhắc lại lời tuyên hứa Phép Rửa, cũng là việc rảy nước thánh trên cộng đoàn, cũng là cờ quạt trùng giăng và những đóa huệ Phục Sinh mơn mớn.
Không phải tất cả các truyền thống tôn giáo gắn liền với Lễ Phục Sinh đều có nguồn gốc Kitô giáo. Nhưng đa số các truyền thống ấy trải qua các thế kỷ đã nhận được một sự diễn dịch theo tinh thần Kitô giáo. Sắc thái của mùa này rõ ràng khác với sắc thái của Mùa Giáng Sinh. Tuy nhiên, niềm vui cũng rộn ràng không kém; bởi vì đất trời đã vào xuân, bỏ lại sau lưng những tháng mùa đông lạnh giá; bởi vì người ta cảm nghiệm được sự sống lại của riêng mình sau những nỗ lực sống mùa chay tịnh; cũng bởi vì Mùa Chay đầy căng thẳng đã trôi qua.

Con Chiên Phục Sinh
Con Chiên bị sát tế là biểu tượng chính yếu của bữa ăn Vượt Qua. Nó tiếp tục là biểu tượng của Đức Giêsu, Con Chiên Thiên Chúa, bị hành quyết và được Phục Sinh từ cõi chết để đem lại tự do cho tất cả những ai ở trong vòng nô lệ của tội lỗi và của sự mê muội về mặt tinh thần. Con Chiên Phục Sinh đã trở thành một biểu tượng quan trọng trong nghệ thuật Kitô giáo. Việc đưa biểu tượng này vào các kiểu trang hoàng Lễ Phục Sinh và việc nướng bánh Phục Sinh trong hình dạng con chiên cũng đã trở nên một truyền thống quen thuộc.

29 thg 3, 2013


CÁO PHÓ CHÚA GIÊSU



Trong niềm tin vào tình thương của Chúa Cha và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần, chúng tôi thành kính báo tin cùng các anh em môn đệ, thân bằng quyến thuộc, bạn hữu xa gần và toàn thể nhân loại:

Thiên Chúa, Đấng Cứu Thế, Thầy, Người Yêu và Bạn của chúng tôi là: GIÊSU KITÔ

Đã được CHA gọi về vào giờ thứ chín ngày Lễ Vượt Qua, khoảng năm 26 sau Công Nguyên (AD), tại Giêrusalem, hưởng dương 33 tuổi.

Nghi thức hạ xác, tẩm liệm sẽ được tổ chức trên đồi Golgotha, sau đó linh cửu sẽ được mai táng trong mồ đá gần đó.

Ngày giờ có thể đi viếng mộ: sau ngày Sa-bát, ngày thứ nhất trong tuần (nếu bạn sống ở thế kỷ 21 hãy đến thăm viếng vào Tam Nhật Thánh tại các nhà thờ Công giáo).

Kính xin mọi người dâng lời cảm tạ Thiên Chúa Cha đã ban Con Một của Ngài xuống thế để cứu chuộc nhân loại.
 
TIỂU SỬ CỦA CHÚA GIÊSU KITÔ

- Họ và tên: J.hoschua (tiếng Do Thái) hoặc Jesua hay Jesu (tiếng Aramê), Giêsu (tiếng Việt).
- Danh hiệu: "Messiah" có nghĩa là "Đấng được xức dầu".
- Quốc tịch: Do thái, thuộc hoàng tộc David.
- Năm sinh: năm 7 trước Công Nguyên (trước khi vua Hêrôđê băng hà ít lâu: 4 năm trước CN).
- Nơi sinh: chuồng chiên, tại Belem.
- Nơi thường trú: Nazareth.
- Ngôn ngữ: tiếng Aramê của miền Galilêa.
- Cha mẹ trần thế: Giuse và Maria.
- Cha thiên quốc: Chúa Cha
- Ngày chịu phép cắt bì: 8 ngày sau khi sanh.
- Ngày tiến dâng cho Thiên Chúa: năm 12 tuổi.
- Nghề nghiệp: thợ mộc (teknos), nghề của cha Giuse.
- Gia tài: Không có gì, ngoài chiếc giường duy nhất là cây thánh giá.
- Học vấn: tại gia, trường Giuse-Maria.
- Tình trạng: độc thân.
- Hoạt động công khai: năm 30 tuổi.
- Địa bàn hoạt động: giảng dạy khắp nơi, nhưng phần lớn chung quanh hồ Galilêa, mà trọng tâm là thành phố ngư phủ Capharnaum. Thời gian hoạt động chừng 2 năm rưỡi.
- Đề tài rao giảng: Hãy ăn năn sám hối vì Nước Trời đã gần đến.
- Bài giảng đầu tiên: Bài giảng trên núi về Tám Mối Phúc Thật.
- Các môn đệ: dù không phải là Rabbi, nhưng Ngài đã chọn ra 12 Tông đồ là ông Si-môn, cũng gọi là Phê-rô, rồi đến ông An-rê, anh của ông; sau đó là ông Gia-cô-bê con ông Dê-bê-đê và ông Gio-an, em của ông; ông Phi-líp-phê và ông Ba-tô-lô-mê-ô; ông Tô-ma và ông Mát-thêu người thu thuế; ông Gia-cô-bê con ông An-phê và ông Ta-đê-ô; ông Si-môn thuộc nhóm Quá Khích, và ông Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, là chính kẻ nộp Chúa Giêsu cho các thượng tế.
- Các phép lạ: nước hóa thành rượu, năm chiếc bánh và hai con cá nuôi năm ngàn người ăn, chữa lành các bệnh tật, trừ quỷ, cho người chết sống lại...
- Bữa tiệc sau cùng: Bữa Tiệc Ly.
- Tội phạm: Giới thẩm quyền Do thái đã tố cáo Ngài phạm thượng.
- Bản án: Chính quyền Roma, đại diện là Pontio Philatô, đã lên án Ngài và cho đóng đinh vào thập giá.
- Hành quyết: bị đóng đinh sau trưa ngày lễ Vượt Qua, tại một nơi nằm ngoài vòng đai thủ đô Giêrusalem.
- Mai táng: trong mồ đá, tại một chỗ không xa nơi hành quyết.
- Nơi chết: Trên đồi Golgôtha.
- Các biến cố lịch sử trong đời: Giáng sinh tại Bêlem, chịu phép rửa trên sông Giođan, biến hình trên núi Tabor, chịu chết trên đồi Gôlgotha, sống lại từ cõi chết, và lên trời.
- Bảy lời sau cùng: "Lạy Cha, xin tha thứ cho chúng" (Lc. 23:32-34), "Ngày hôm nay con sẽ được ở với Ta trên Nước Thiên Ðàng" (Lc. 23:35-43), "Này Bà, đây là con Bà!" (Ga. 19:16-27), "Lạy Chúa tôi, Lạy Chúa tôi, nhân sao Chúa bỏ tôi" (Mt. 27:45-47 Mc. 15:33-36), "Ta khát" (Ga. 19: 28-29), "Mọi sự đã hoàn tất" (Ga. 19:30-37), "Lạy Cha, con xin phó linh hồn con trong tay Cha" (Lc. 23:44-56).
- Tấm gương kỳ cục nhất: Rửa chân cho các môn đệ.
- Lời sau cùng trước khi về trời: Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.
- Dấu tích đặc biệt: Năm dấu thánh.
- Tác phẩm để đời: Lời, Mình và Máu Thánh mang lại sự sống đời đời cho nhân loại.
- Biến cố vĩ đại sắp làm: Lại đến lần thứ hai trong vinh quang.

Tang gia đồng khấp báo. Cáo phó này thay thế thiệp tang. Xin miễn phúng điếu và tặng vòng hoa, nhưng dùng tiền để giúp người nghèo.

 
Đại diện:
Tông đồ Phêrô

CÁO PHÓ CHÚA GIÊSU


CÁO PHÓ CHÚA GIÊSU



Trong niềm tin vào tình thương của Chúa Cha và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần, chúng tôi thành kính báo tin cùng các anh em môn đệ, thân bằng quyến thuộc, bạn hữu xa gần và toàn thể nhân loại:

Thiên Chúa, Đấng Cứu Thế, Thầy, Người Yêu và Bạn của chúng tôi là: GIÊSU KITÔ

Đã được CHA gọi về vào giờ thứ chín ngày Lễ Vượt Qua, khoảng năm 26 sau Công Nguyên (AD), tại Giêrusalem, hưởng dương 33 tuổi.

Nghi thức hạ xác, tẩm liệm sẽ được tổ chức trên đồi Golgotha, sau đó linh cửu sẽ được mai táng trong mồ đá gần đó.

Ngày giờ có thể đi viếng mộ: sau ngày Sa-bát, ngày thứ nhất trong tuần (nếu bạn sống ở thế kỷ 21 hãy đến thăm viếng vào Tam Nhật Thánh tại các nhà thờ Công giáo).

Kính xin mọi người dâng lời cảm tạ Thiên Chúa Cha đã ban Con Một của Ngài xuống thế để cứu chuộc nhân loại.
 
TIỂU SỬ CỦA CHÚA GIÊSU KITÔ

- Họ và tên: J.hoschua (tiếng Do Thái) hoặc Jesua hay Jesu (tiếng Aramê), Giêsu (tiếng Việt).
- Danh hiệu: "Messiah" có nghĩa là "Đấng được xức dầu".
- Quốc tịch: Do thái, thuộc hoàng tộc David.
- Năm sinh: năm 7 trước Công Nguyên (trước khi vua Hêrôđê băng hà ít lâu: 4 năm trước CN).
- Nơi sinh: chuồng chiên, tại Belem.
- Nơi thường trú: Nazareth.
- Ngôn ngữ: tiếng Aramê của miền Galilêa.
- Cha mẹ trần thế: Giuse và Maria.
- Cha thiên quốc: Chúa Cha
- Ngày chịu phép cắt bì: 8 ngày sau khi sanh.
- Ngày tiến dâng cho Thiên Chúa: năm 12 tuổi.
- Nghề nghiệp: thợ mộc (teknos), nghề của cha Giuse.
- Gia tài: Không có gì, ngoài chiếc giường duy nhất là cây thánh giá.
- Học vấn: tại gia, trường Giuse-Maria.
- Tình trạng: độc thân.
- Hoạt động công khai: năm 30 tuổi.
- Địa bàn hoạt động: giảng dạy khắp nơi, nhưng phần lớn chung quanh hồ Galilêa, mà trọng tâm là thành phố ngư phủ Capharnaum. Thời gian hoạt động chừng 2 năm rưỡi.
- Đề tài rao giảng: Hãy ăn năn sám hối vì Nước Trời đã gần đến.
- Bài giảng đầu tiên: Bài giảng trên núi về Tám Mối Phúc Thật.
- Các môn đệ: dù không phải là Rabbi, nhưng Ngài đã chọn ra 12 Tông đồ là ông Si-môn, cũng gọi là Phê-rô, rồi đến ông An-rê, anh của ông; sau đó là ông Gia-cô-bê con ông Dê-bê-đê và ông Gio-an, em của ông; ông Phi-líp-phê và ông Ba-tô-lô-mê-ô; ông Tô-ma và ông Mát-thêu người thu thuế; ông Gia-cô-bê con ông An-phê và ông Ta-đê-ô; ông Si-môn thuộc nhóm Quá Khích, và ông Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, là chính kẻ nộp Chúa Giêsu cho các thượng tế.
- Các phép lạ: nước hóa thành rượu, năm chiếc bánh và hai con cá nuôi năm ngàn người ăn, chữa lành các bệnh tật, trừ quỷ, cho người chết sống lại...
- Bữa tiệc sau cùng: Bữa Tiệc Ly.
- Tội phạm: Giới thẩm quyền Do thái đã tố cáo Ngài phạm thượng.
- Bản án: Chính quyền Roma, đại diện là Pontio Philatô, đã lên án Ngài và cho đóng đinh vào thập giá.
- Hành quyết: bị đóng đinh sau trưa ngày lễ Vượt Qua, tại một nơi nằm ngoài vòng đai thủ đô Giêrusalem.
- Mai táng: trong mồ đá, tại một chỗ không xa nơi hành quyết.
- Nơi chết: Trên đồi Golgôtha.
- Các biến cố lịch sử trong đời: Giáng sinh tại Bêlem, chịu phép rửa trên sông Giođan, biến hình trên núi Tabor, chịu chết trên đồi Gôlgotha, sống lại từ cõi chết, và lên trời.
- Bảy lời sau cùng: "Lạy Cha, xin tha thứ cho chúng" (Lc. 23:32-34), "Ngày hôm nay con sẽ được ở với Ta trên Nước Thiên Ðàng" (Lc. 23:35-43), "Này Bà, đây là con Bà!" (Ga. 19:16-27), "Lạy Chúa tôi, Lạy Chúa tôi, nhân sao Chúa bỏ tôi" (Mt. 27:45-47 Mc. 15:33-36), "Ta khát" (Ga. 19: 28-29), "Mọi sự đã hoàn tất" (Ga. 19:30-37), "Lạy Cha, con xin phó linh hồn con trong tay Cha" (Lc. 23:44-56).
- Tấm gương kỳ cục nhất: Rửa chân cho các môn đệ.
- Lời sau cùng trước khi về trời: Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.
- Dấu tích đặc biệt: Năm dấu thánh.
- Tác phẩm để đời: Lời, Mình và Máu Thánh mang lại sự sống đời đời cho nhân loại.
- Biến cố vĩ đại sắp làm: Lại đến lần thứ hai trong vinh quang.

Tang gia đồng khấp báo. Cáo phó này thay thế thiệp tang. Xin miễn phúng điếu và tặng vòng hoa, nhưng dùng tiền để giúp người nghèo.

 
Đại diện:
Tông đồ Phêrô


Trong khoảng thời gian từ khi Chúa Giêsu chịu chết vào 3 giờ chiều thứ Sáu tới khi Ngài sống lại vào đầu ngày Chúa nhật Phục sinh, Ngài ở đâu? Cả Kinh thánh và Tông truyền đều trả lời câu hỏi này. Hãy cân nhắc vài điều sau đây:
Trích từ một bài giảng cổ về Thứ Bảy Tuần Thánh, khoảng thế kỷ II: Sự im lặng bao trùm trái đất, vô cùng lặng lẽ và tĩnh mịch. Tĩnh lặng vì Vua đang yên giấc. Trái đất run sợ và tĩnh lặng vì Thiên Chúa yên nghỉ trong nhục thể và Ngài đã phục sinh những người đã chết từ khi thế giới khởi sự… Ngài đã đi tìm Adam, thân phụ của chúng ta, như con chiên thất lạc. Ước muốn thăm những người sống trong bóng tối của sự chết, Ngài đã trả tự do cho Adam và Eve. Ngài vừa là Thiên Chúa vừa là Con của Eve… “Ta là Thiên Chúa của các ngươi, Đấng vì các ngươi mà trở nên Con của các ngươi… Ta ra lệnh cho các ngươi, hỡi những người còn ngủ mê, hãy trỗi dậy. Ta không tạo dựng các ngươi để bị giam cầm trong hỏa ngục. Hãy trỗi dậy từ cõi chết, vì ta là sự sống của kẻ chết”.
Không gì đẹp hơn những từ được nói với Adam và Eva: “Ta là Thiên Chúa của các ngươi, Đấng vì các ngươi mà trở nên Con của các ngươi”.
Kinh thánh cũng chứng tỏ Chúa Giêsu đi gặp kẻ chết và những gì Ngài đã làm: “Chính Đức Kitô đã chịu chết một lần vì tội lỗi – Đấng Công Chính đã chết cho kẻ bất lương- hầu dẫn đưa chúng ta đến cùng Thiên Chúa. Thân xác Người đã bị giết chết, nhưng nhờ Thần Khí, Người đã được phục sinh… Chính vì thế mà Tin Mừng đã được loan báo ngay cho cả những kẻ chết, để tuy bị phán xét về phần xác theo cách nhìn của loài người, họ được sống về phần hồn theo ý định của Thiên Chúa” (1 Pr 3:18; 1 Pr 4:6).
Hãy cân nhắc đoạn văn này nói về việc Chúa Giêsu gặp kẻ chết (Giáo lý Công giáo, số 631-635):
Ý nghĩa có trong bài giảng về việc Chúa Giêsu xuống Ngục tổ tông vì Chúa Giêsu, cũng như mọi người, đã trải qua sự chết và linh hồn Ngài kết hợp với người khác trong thế giới của người chết.
Nhưng Ngài xuống đó với tư cách là Đấng Cứu Độ, công bố Tin Mừng cho những vong linh bị giam cầm ở đó (1 Pr 3:18-19; 1 Pr 4:6; Dt 13:20). Kinh thánh gọi đó là nơi ở của kẻ chết, Đức Kitô tử nạn xuống đó vì những người ở đó bị tước quyền nhìn thấy Thiên Chúa (1 Pr 3:18-19).
Trường hợp của những kẻ chết là vậy, dù tội lỗi hay công chính, họ mong chờ Đấng Cứu Độ: Chính những linh hồn thánh này đã mong chờ Đấng Cứu Độ của họ… những người mà Chúa Kitô đã giải thoát khi Ngài xuống Ngục tổ tông (x. Tv 89:49; 1 Sm 28:19; Ed 32:17; Lc 16:22-26).
Chúa Giêsu không xuống hỏa ngục để giải thoát những kẻ bị nguyền rủa, cũng không hủy hoại Ngục tổ tông mà để giải thoát những người chết trước Ngài.
Thậm chí Tin Mừng cũng được rao giảng cho những người chết. Việc xuống Ngục tổ tông đem lại cho Phúc âm sứ điệp cứu độ để hoàn tất. Đây là giai đoạn cuối của sứ vụ cứu thế của Chúa Giêsu, một giai đoạn được cô đọng đúng lúc nhưng rộng rãi về tầm quan trọng thực tế: sự lan truyền công cuộc cứu độ của Đức Kitô đối với mọi người ở mọi thời đại và mọi nơi, để những người được cứu đều được thông phần Ơn Cứu Độ.
Đức Kitô chịu chết để “kẻ chết sẽ nghe tiếng của Con Thiên Chúa, và ai nghe thì được sống” (x. 1 Pr 4:6). Chúa Giêsu, “tác giả của sự sống”, bằng cái chết, Ngài đã kủy diệt sức mạnh của tử thần, nghĩa là ma quỷ, và những người qua nỗi sợ của sự chết được phải khuất phục mãi mãi” (x. Ga 5:25; Mt 12:40; Rm 10:7; Ep 4:9).
Do đó, Chúa Kitô Phục sinh nắm giữ “chìa khóa của tử thần và hỏa ngục”, để “khi nghe tên Giêsu, mọi gối phải bái quỳ, cả trên trời, dưới đất và hỏa ngục” (x. Dt 2:14-15; Cv 3:15).
TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ Archdiocese of Washington)

Giữa sự chết và phục sinh, Chúa Giêsu ở đâu ?



Trong khoảng thời gian từ khi Chúa Giêsu chịu chết vào 3 giờ chiều thứ Sáu tới khi Ngài sống lại vào đầu ngày Chúa nhật Phục sinh, Ngài ở đâu? Cả Kinh thánh và Tông truyền đều trả lời câu hỏi này. Hãy cân nhắc vài điều sau đây:
Trích từ một bài giảng cổ về Thứ Bảy Tuần Thánh, khoảng thế kỷ II: Sự im lặng bao trùm trái đất, vô cùng lặng lẽ và tĩnh mịch. Tĩnh lặng vì Vua đang yên giấc. Trái đất run sợ và tĩnh lặng vì Thiên Chúa yên nghỉ trong nhục thể và Ngài đã phục sinh những người đã chết từ khi thế giới khởi sự… Ngài đã đi tìm Adam, thân phụ của chúng ta, như con chiên thất lạc. Ước muốn thăm những người sống trong bóng tối của sự chết, Ngài đã trả tự do cho Adam và Eve. Ngài vừa là Thiên Chúa vừa là Con của Eve… “Ta là Thiên Chúa của các ngươi, Đấng vì các ngươi mà trở nên Con của các ngươi… Ta ra lệnh cho các ngươi, hỡi những người còn ngủ mê, hãy trỗi dậy. Ta không tạo dựng các ngươi để bị giam cầm trong hỏa ngục. Hãy trỗi dậy từ cõi chết, vì ta là sự sống của kẻ chết”.
Không gì đẹp hơn những từ được nói với Adam và Eva: “Ta là Thiên Chúa của các ngươi, Đấng vì các ngươi mà trở nên Con của các ngươi”.
Kinh thánh cũng chứng tỏ Chúa Giêsu đi gặp kẻ chết và những gì Ngài đã làm: “Chính Đức Kitô đã chịu chết một lần vì tội lỗi – Đấng Công Chính đã chết cho kẻ bất lương- hầu dẫn đưa chúng ta đến cùng Thiên Chúa. Thân xác Người đã bị giết chết, nhưng nhờ Thần Khí, Người đã được phục sinh… Chính vì thế mà Tin Mừng đã được loan báo ngay cho cả những kẻ chết, để tuy bị phán xét về phần xác theo cách nhìn của loài người, họ được sống về phần hồn theo ý định của Thiên Chúa” (1 Pr 3:18; 1 Pr 4:6).
Hãy cân nhắc đoạn văn này nói về việc Chúa Giêsu gặp kẻ chết (Giáo lý Công giáo, số 631-635):
Ý nghĩa có trong bài giảng về việc Chúa Giêsu xuống Ngục tổ tông vì Chúa Giêsu, cũng như mọi người, đã trải qua sự chết và linh hồn Ngài kết hợp với người khác trong thế giới của người chết.
Nhưng Ngài xuống đó với tư cách là Đấng Cứu Độ, công bố Tin Mừng cho những vong linh bị giam cầm ở đó (1 Pr 3:18-19; 1 Pr 4:6; Dt 13:20). Kinh thánh gọi đó là nơi ở của kẻ chết, Đức Kitô tử nạn xuống đó vì những người ở đó bị tước quyền nhìn thấy Thiên Chúa (1 Pr 3:18-19).
Trường hợp của những kẻ chết là vậy, dù tội lỗi hay công chính, họ mong chờ Đấng Cứu Độ: Chính những linh hồn thánh này đã mong chờ Đấng Cứu Độ của họ… những người mà Chúa Kitô đã giải thoát khi Ngài xuống Ngục tổ tông (x. Tv 89:49; 1 Sm 28:19; Ed 32:17; Lc 16:22-26).
Chúa Giêsu không xuống hỏa ngục để giải thoát những kẻ bị nguyền rủa, cũng không hủy hoại Ngục tổ tông mà để giải thoát những người chết trước Ngài.
Thậm chí Tin Mừng cũng được rao giảng cho những người chết. Việc xuống Ngục tổ tông đem lại cho Phúc âm sứ điệp cứu độ để hoàn tất. Đây là giai đoạn cuối của sứ vụ cứu thế của Chúa Giêsu, một giai đoạn được cô đọng đúng lúc nhưng rộng rãi về tầm quan trọng thực tế: sự lan truyền công cuộc cứu độ của Đức Kitô đối với mọi người ở mọi thời đại và mọi nơi, để những người được cứu đều được thông phần Ơn Cứu Độ.
Đức Kitô chịu chết để “kẻ chết sẽ nghe tiếng của Con Thiên Chúa, và ai nghe thì được sống” (x. 1 Pr 4:6). Chúa Giêsu, “tác giả của sự sống”, bằng cái chết, Ngài đã kủy diệt sức mạnh của tử thần, nghĩa là ma quỷ, và những người qua nỗi sợ của sự chết được phải khuất phục mãi mãi” (x. Ga 5:25; Mt 12:40; Rm 10:7; Ep 4:9).
Do đó, Chúa Kitô Phục sinh nắm giữ “chìa khóa của tử thần và hỏa ngục”, để “khi nghe tên Giêsu, mọi gối phải bái quỳ, cả trên trời, dưới đất và hỏa ngục” (x. Dt 2:14-15; Cv 3:15).
TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ Archdiocese of Washington)




Con đã khóc Chúa ơi con đã khóc !

Trong không gian lặng lẽ bóng chiều về
Nghe xưa vọng chiều CanVê gục chết
Ngài dang tay ôm nhân loại u mê.
Bóng giáo đường rủ buồn vương màu tím
Một mình con bên Thánh Giá đìu hiu
Trong tin yêu con lặng lẽ cúi đầu
Trong thinh lặng nghe tình chúa thẳm sâu.
Chúa nằm đó hằn sâu vết thương đau
Cho con thấy một tình yêu rực máu
Chảy lênh láng trên tình thế nhân bạc
Quên tình Chúa ôi ngút ngàn trời mây.
Con đã thấy Chúa ơi con đã thấy!
Khắp châu thân bao vết thương phủ đầy
Ôi nhân loại sao ra tay độc ác
Vòng gai nhọn đâm nát đỉnh tình yêu.
Thế nhân hỡi hay chăng một buổi chiều
Thân tàn hơi Cha vẫn nói lời yêu
Yêu tha thứ yêu tận cùng thathứ
Sao thế nhân vẫn hoài trong bội bạc.
Cho con hôn bàn chân Cha dập nát
Bước đớn đau đường thập giá vô tình
Một lần đến thế gian ngàn tội lỗi
Tim vẫn mang tình nhân loại hư vinh.
Bóng giáo đường vẫn buồn vương màu tím
Bóng con đi lòng nặng trĩu u buồn
Tình Cha đó vang vọng mãi trong tim
Làm sao để đáp đền ân tình Chúa.
Cho con đến một lần xin khấn hứa
Chút tình con an ủi khối tình Cha
Xin chắp tay một lần lời tâm vọng
Tri ân Ngài mãi mãi một đời con .



Song Lam

CHIỀU HÔN CHÂN





Con đã khóc Chúa ơi con đã khóc !

Trong không gian lặng lẽ bóng chiều về
Nghe xưa vọng chiều CanVê gục chết
Ngài dang tay ôm nhân loại u mê.
Bóng giáo đường rủ buồn vương màu tím
Một mình con bên Thánh Giá đìu hiu
Trong tin yêu con lặng lẽ cúi đầu
Trong thinh lặng nghe tình chúa thẳm sâu.
Chúa nằm đó hằn sâu vết thương đau
Cho con thấy một tình yêu rực máu
Chảy lênh láng trên tình thế nhân bạc
Quên tình Chúa ôi ngút ngàn trời mây.
Con đã thấy Chúa ơi con đã thấy!
Khắp châu thân bao vết thương phủ đầy
Ôi nhân loại sao ra tay độc ác
Vòng gai nhọn đâm nát đỉnh tình yêu.
Thế nhân hỡi hay chăng một buổi chiều
Thân tàn hơi Cha vẫn nói lời yêu
Yêu tha thứ yêu tận cùng thathứ
Sao thế nhân vẫn hoài trong bội bạc.
Cho con hôn bàn chân Cha dập nát
Bước đớn đau đường thập giá vô tình
Một lần đến thế gian ngàn tội lỗi
Tim vẫn mang tình nhân loại hư vinh.
Bóng giáo đường vẫn buồn vương màu tím
Bóng con đi lòng nặng trĩu u buồn
Tình Cha đó vang vọng mãi trong tim
Làm sao để đáp đền ân tình Chúa.
Cho con đến một lần xin khấn hứa
Chút tình con an ủi khối tình Cha
Xin chắp tay một lần lời tâm vọng
Tri ân Ngài mãi mãi một đời con .



Song Lam



(Ga 18, 1-9, 42)
ĐƯỜNG THẬP GIÁ
Mỗi năm khi bước vào Tuần Thánh. Chúng ta có dịp xem lại bộ phim The Passion of The Christ (Cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu). Bộ phim thuật lại 12 giờ sau cùng của Chúa Giêsu, khởi sự từ cuộc hấp hối trong Vườn Cây dầu. Chúng ta dễ dàng xúc động rơi lệ trước những cảnh đòn roi dã man mà Chúa phải chịu. Thế nhưng vượt lên trên nỗi đau thân xác mà Chúa phải chịu, thì phải nói đến nỗi đau tâm hồn Chúa phải chịu đó là Chúa phải chứng kiến sự bạc bẽo của người Do Thái. Chỉ cách đó mấy ngày, những người Do Thái hân hoan cầm cành thiên tuế trên tay “Hoan hô Con vua Đa-vít! Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Đức Chúa! Hoan hô trên các tầng trời”(Mt 21,9). Nhưng bây giờ cũng những bàn tay ấy giơ cao đòi “Hãy đóng đinh nó vào Thập giá”(Ga 19, 6). Rồi Chúa phải chứng kiến sự bội phản của các đồ đệ thân tín. Một Giuđa được tín nhiệm làm quan lý lo lắng đời sống cho anh em đã tham lam bán Thầy với giá 30 đồng bạc rẻ mạt. Một Phêrô trước đó đã hung hăng khảng định : “Dù ai có bỏ Thầy, con thề sống chết với Thầy”(Mt 26, 33) giờ đây đã nhát đảm chối Thầy 3 lần. Còn các môn đệ khác bỏ Thầy chạy trốn. Chúa Giêsu hoàn toàn cô độc trong Vườn Cây Dầu. Ngài đã phải thốt lên : “Linh hồn Thầy đau buồn đến chết được”(Ga 26, 38). Dù có ba môn đệ thân tín đi theo, nhưng xác thịt yếu đuối, họ cũng không thể thức để đồng cảm với Chúa. Trong Vườn Cây Dầu Ngài đã thổn thức dằn vặt giữa Thánh Ý Cha và ý riêng. Nhưng rồi như một người tôi tớ đau khổ luôn trung tín, lấy Thánh Ý Cha làm đầu. Ngài cũng đã chiến thắng ý riêng để rồi thưa lên : “Xin đừng theo ý con mà xin theo Ý Cha”(Ga 26, 39). “Xin vâng Ý Cha” Ngài đã được Thiên Chúa Cha tôn vinh. Hiến tế của Đức Giêsu Kitô đã hoàn tất : “Lạy Cha, con xin phó thác linh hồn con trong tay Cha” (Lc 23, 46).
Đức Giêsu đã đi trọn con đường thập giá, và đã phục sinh vinh hiển để đem lại ơn cứu độ cho mỗi người chúng ta. Do đó, để nhận được ơn cứu độ của Ngài, mỗi người chúng ta chắc chắn cũng phải đi trọn con đường thập giá của mình. Đi con đường thập giá của Đức Giêsu, chúng ta vẫn phải đối diện với nỗi đau đớn của sự phản bội, vu khống, bội bạc của những người đang cùng sống với chúng ta. Thậm chí, có khi sự vô ơn, bội bạc đó còn đến bởi những người thân yêu nhất của chúng ta như: anh chị em, con cái, bạn bè…
Trong Sứ điệp của Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI gửi giới trẻ nhân Ngày Giới trẻ Thế giới XXVI (năm 2011) với chủ đề “Bén rễ và đặt nền tảng nơi Đức Giêsu Kitô, vững mạnh trong đức Tin” (x. Cl 2,7) Đức Thánh Cha đã nói rằng :“Để làm nổi bật tầm quan trọng của niềm tin nơi Thiên Chúa trong đời sống các tín hữu, tôi muốn cùng với các bạn suy tư về từng hình ảnh trong ba lối diễn tả mà Thánh Phaolô sử dụng khi nói: “Bén rễ và đặt nền tảng nơi Đức Kitô, vững mạnh trong đức Tin”. Trong câu này chúng ta có thể thấy ba hình ảnh. “Bén rễ” gợi lên hình ảnh cây và bộ rễ nuôi cây. “Đặt nền tảng” nói về việc dựng nhà. “Vững mạnh” gợi đến sự tăng trưởng sức mạnh thể lý hoặc tinh thần. Những hình ảnh này rất gợi tả. Trước khi giải thích các hình ảnh này, tôi muốn lưu ý, về phương diện văn phạm, trong bản gốc Hy Lạp, câu ở thể thụ động: điều này có nghĩa là chính Chúa Kitô đưa ra sáng kiến làm bén rễ, xây dựng và củng cố các tín hữu.
Hình ảnh trước tiên là cây, bám chắc vào đất nhờ rễ, rễ làm cho cây đứng vững và nuôi dưỡng cây. Nếu không có rễ, cây sẽ bị gió bứng lên rồi chết. Đâu là những gốc rễ của chúng ta? Chắc chắn đó là cha mẹ, gia đình và nền văn hóa của đất nước chúng ta, hình thành một phương diện rất quan trọng trong căn tính của chúng ta. Kinh Thánh cho thấy một khía cạnh khác. Tiên tri Giêrêmia viết: “Phúc thay kẻ phó thác vào Chúa, có Chúa là niềm tin. Người ấy như cây trồng bên dòng nước, tỏa rễ vào dòng nước, chẳng sợ gì khi nóng bức, lá vẫn cứ xanh tươi, gặp năm hạn hán cũng chẳng ngại, và không ngừng trổ sinh hoa trái”. (Gr 17,7-8).”
Như vậy cho dù chúng ta gặp những sự khổ ải, mất mát trong cuộc sống, chúng ta cũng không nản lòng, thối chí, bởi vì chúng ta không vác thập giá một mình, chúng ta có Đức Giêsu, người Thầy, và là Chúa của chúng ta cùng vác với chúng ta. Và nếu chúng ta dám đi trọn con đường thập giá với Ngài, thì chắc chắn, cuối cùng chúng ta cũng sẽ được cùng Ngài hưởng trọn niềm vui của cuộc Phục Sinh vinh hiển.
“Lạy Chúa, xin cho con bước đi theo Ngài, xin cho con cùng vác với Ngài, Thập Gía trên đường đời con đi. Lạy Chúa, xin cho con đóng đinh với Ngài, xin cho con cung chết với Ngài, để được sống vơi Ngài vinh quang”. (Lời bài hát Con Đường Chúa Đã Đi Qua).
Lm. GioanB Lại Anh Tuấn

SUY NIỆM THỨ SÁU TUẦN THÁNH



(Ga 18, 1-9, 42)
ĐƯỜNG THẬP GIÁ
Mỗi năm khi bước vào Tuần Thánh. Chúng ta có dịp xem lại bộ phim The Passion of The Christ (Cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu). Bộ phim thuật lại 12 giờ sau cùng của Chúa Giêsu, khởi sự từ cuộc hấp hối trong Vườn Cây dầu. Chúng ta dễ dàng xúc động rơi lệ trước những cảnh đòn roi dã man mà Chúa phải chịu. Thế nhưng vượt lên trên nỗi đau thân xác mà Chúa phải chịu, thì phải nói đến nỗi đau tâm hồn Chúa phải chịu đó là Chúa phải chứng kiến sự bạc bẽo của người Do Thái. Chỉ cách đó mấy ngày, những người Do Thái hân hoan cầm cành thiên tuế trên tay “Hoan hô Con vua Đa-vít! Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Đức Chúa! Hoan hô trên các tầng trời”(Mt 21,9). Nhưng bây giờ cũng những bàn tay ấy giơ cao đòi “Hãy đóng đinh nó vào Thập giá”(Ga 19, 6). Rồi Chúa phải chứng kiến sự bội phản của các đồ đệ thân tín. Một Giuđa được tín nhiệm làm quan lý lo lắng đời sống cho anh em đã tham lam bán Thầy với giá 30 đồng bạc rẻ mạt. Một Phêrô trước đó đã hung hăng khảng định : “Dù ai có bỏ Thầy, con thề sống chết với Thầy”(Mt 26, 33) giờ đây đã nhát đảm chối Thầy 3 lần. Còn các môn đệ khác bỏ Thầy chạy trốn. Chúa Giêsu hoàn toàn cô độc trong Vườn Cây Dầu. Ngài đã phải thốt lên : “Linh hồn Thầy đau buồn đến chết được”(Ga 26, 38). Dù có ba môn đệ thân tín đi theo, nhưng xác thịt yếu đuối, họ cũng không thể thức để đồng cảm với Chúa. Trong Vườn Cây Dầu Ngài đã thổn thức dằn vặt giữa Thánh Ý Cha và ý riêng. Nhưng rồi như một người tôi tớ đau khổ luôn trung tín, lấy Thánh Ý Cha làm đầu. Ngài cũng đã chiến thắng ý riêng để rồi thưa lên : “Xin đừng theo ý con mà xin theo Ý Cha”(Ga 26, 39). “Xin vâng Ý Cha” Ngài đã được Thiên Chúa Cha tôn vinh. Hiến tế của Đức Giêsu Kitô đã hoàn tất : “Lạy Cha, con xin phó thác linh hồn con trong tay Cha” (Lc 23, 46).
Đức Giêsu đã đi trọn con đường thập giá, và đã phục sinh vinh hiển để đem lại ơn cứu độ cho mỗi người chúng ta. Do đó, để nhận được ơn cứu độ của Ngài, mỗi người chúng ta chắc chắn cũng phải đi trọn con đường thập giá của mình. Đi con đường thập giá của Đức Giêsu, chúng ta vẫn phải đối diện với nỗi đau đớn của sự phản bội, vu khống, bội bạc của những người đang cùng sống với chúng ta. Thậm chí, có khi sự vô ơn, bội bạc đó còn đến bởi những người thân yêu nhất của chúng ta như: anh chị em, con cái, bạn bè…
Trong Sứ điệp của Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI gửi giới trẻ nhân Ngày Giới trẻ Thế giới XXVI (năm 2011) với chủ đề “Bén rễ và đặt nền tảng nơi Đức Giêsu Kitô, vững mạnh trong đức Tin” (x. Cl 2,7) Đức Thánh Cha đã nói rằng :“Để làm nổi bật tầm quan trọng của niềm tin nơi Thiên Chúa trong đời sống các tín hữu, tôi muốn cùng với các bạn suy tư về từng hình ảnh trong ba lối diễn tả mà Thánh Phaolô sử dụng khi nói: “Bén rễ và đặt nền tảng nơi Đức Kitô, vững mạnh trong đức Tin”. Trong câu này chúng ta có thể thấy ba hình ảnh. “Bén rễ” gợi lên hình ảnh cây và bộ rễ nuôi cây. “Đặt nền tảng” nói về việc dựng nhà. “Vững mạnh” gợi đến sự tăng trưởng sức mạnh thể lý hoặc tinh thần. Những hình ảnh này rất gợi tả. Trước khi giải thích các hình ảnh này, tôi muốn lưu ý, về phương diện văn phạm, trong bản gốc Hy Lạp, câu ở thể thụ động: điều này có nghĩa là chính Chúa Kitô đưa ra sáng kiến làm bén rễ, xây dựng và củng cố các tín hữu.
Hình ảnh trước tiên là cây, bám chắc vào đất nhờ rễ, rễ làm cho cây đứng vững và nuôi dưỡng cây. Nếu không có rễ, cây sẽ bị gió bứng lên rồi chết. Đâu là những gốc rễ của chúng ta? Chắc chắn đó là cha mẹ, gia đình và nền văn hóa của đất nước chúng ta, hình thành một phương diện rất quan trọng trong căn tính của chúng ta. Kinh Thánh cho thấy một khía cạnh khác. Tiên tri Giêrêmia viết: “Phúc thay kẻ phó thác vào Chúa, có Chúa là niềm tin. Người ấy như cây trồng bên dòng nước, tỏa rễ vào dòng nước, chẳng sợ gì khi nóng bức, lá vẫn cứ xanh tươi, gặp năm hạn hán cũng chẳng ngại, và không ngừng trổ sinh hoa trái”. (Gr 17,7-8).”
Như vậy cho dù chúng ta gặp những sự khổ ải, mất mát trong cuộc sống, chúng ta cũng không nản lòng, thối chí, bởi vì chúng ta không vác thập giá một mình, chúng ta có Đức Giêsu, người Thầy, và là Chúa của chúng ta cùng vác với chúng ta. Và nếu chúng ta dám đi trọn con đường thập giá với Ngài, thì chắc chắn, cuối cùng chúng ta cũng sẽ được cùng Ngài hưởng trọn niềm vui của cuộc Phục Sinh vinh hiển.
“Lạy Chúa, xin cho con bước đi theo Ngài, xin cho con cùng vác với Ngài, Thập Gía trên đường đời con đi. Lạy Chúa, xin cho con đóng đinh với Ngài, xin cho con cung chết với Ngài, để được sống vơi Ngài vinh quang”. (Lời bài hát Con Đường Chúa Đã Đi Qua).
Lm. GioanB Lại Anh Tuấn