22 thg 8, 2013


Giải đáp của Cha Edward McNamara, Dòng Đạo Binh Chúa Kitô (LC), Giáo sư phụng vụ của Đại học Regina Apostolorum (Nữ Vương các Thánh Tông Đồ), Rôma.

Hỏi: Cha có thể trả lời cho con các câu hỏi tế nhị này không? Khi một linh mục phạm tội trọng, và được biết đến công khai là có tội trọng (say rượu thường xuyên; giao du với phụ nữ,…) và Giám mục cho phép linh mục ấy cử hành Thánh lễ cách công khai, có điều khoản Giáo luật nào nói về việc này không? Hoặc, nếu một linh mục đã làm cho một phụ nữ có thai, sau đó khuyến khích cô ấy đi phá thai (điều có thực ở đất nước chúng tôi), liệu có sự trừng phạt nào đối với linh mục ấy, thay vì cứ để cho linh mục ấy cử hành Thánh lễ cách công khai? - K. G., Sudan

Đáp: Đây quả thật là các câu hỏi tế nhị và người ta cũng thật buồn để trả lời chúng. Tôi không phải là chuyên viên giáo luật, và do đó không thể trả lời về các sự phức tạp của qui trình giáo luật. Tuy nhiên, tôi có thể cung cấp một số gợi ý liên quan đến các bí tích.

Một linh mục phạm tội trọng, giống như bất kỳ tín hữu nào, phải tìm kiếm sự hòa giải bí tích càng sớm càng tốt. Trong khi đó, linh mục này nên tránh càng xa càng tốt việc cử hành các bí tích.

Qua chữ "càng xa càng tốt", tôi muốn nói rằng nếu linh mục không thể đi xưng tội trước khi chăm lo các nhu cầu của tín hữu, thì ngài cần ăn năn tội cách trọn và cử hành bí tích. Hành vi ăn năn tội này bao hàm cả ý định đi xưng tội càng sớm càng tốt, và quyết tâm không phạm tội nữa. Lẽ tất nhiên nguyên tắc luân lý này được áp dụng cho sự sa ngã tạm thời (và thường là bí mật).

Điều 916 của Bộ Giáo Luật nói: " Ai ý thức mình phạm tội nặng và chưa xưng tội trước, thì không được làm lễ và không được rước lễ, trừ khi có lý do quan trọng và không có dịp tiện đi xưng tội. Trong trường hợp này, họ phải tâm niệm về bổn phận thống hối trọn vẹn, bao gồm lòng dốc quyết đi xưng tội sớm ngần nào có thể (xem thêm Điều 1335)". (Bản dịch Việt ngữ của Bộ Giáo Luật do các Linh Mục Nguyễn Văn Phương, Phan Tấn Thành, Vũ Văn Thiện, Mai Ðức Vinh thực hiện).

Lưu ý rằng điều luật trên đòi hỏi “một lý do quan trọng” để tận dụng ngoại lệ này.

Một lý do quan trọng như vậy là dựa trên nguyên tắc lợi ích của các linh hồn. Nếu một linh mục phải cử hành Thánh Lễ, hoặc có người xin xưng tội, xin Bí tích Xức dầu Bệnh Nhân, hoặc bất kỳ bí tích khác từ linh mục này, vốn phải được thực hiện trước khi linh mục đi xưng tội, thì ngài có thể, và thường phải, cử hành bí tích.

Một lý do quan trọng thứ hai bắt nguồn từ nguy cơ của sự ô nhục bằng cách công khai tiết lộ tình trạng của linh hồn một người. Điều này có thể xảy ra trong trường hợp của một linh mục trong hoàn cảnh bị cô lập, khi không có ai khác để cử hành thánh lễ. Ngài không cần làm điều gì khiến cho mọi người nghi ngờ ngài đang thiếu tình trạng ân sủng.

Trường hợp, được độc giả của chúng tôi đề cập đến, bao hàm một tình hình nghiêm trọng hơn, trong đó linh mục đang công khai sống trong một tình trạng vô luân khách quan, với các dấu hiệu không rõ ràng của sự sẵn sàng thay đổi. Mặc dù chỉ có Chúa mới biết tâm hồn người ta, một tội lỗi công khai đòi hỏi một hình thức xa rời công khai khỏi đời sống tội lỗi. Các bí tích được cử hành bởi một linh mục không ăn năn là hành vi phạm thánh nghiêm trọng. Chúng có thể là thành sự, nhưng là bất hợp pháp.

Một linh mục xúi một phụ nữ phá thai là tự động bị vạ tuyệt thông, là “bất hợp luật” và bị ngăn trở không được hành sử chức thánh của mình (Các Điều 1398, 1041,4, 1043). Linh mục này không thể cử hành các bí tích và không lãnh bí tích xá giải, cho đến khi vạ tuyệt thông được chính thức dỡ bỏ. Nếu ngài tiếp tục hành sử chức thánh của mình, không những việc cử hành của ngài là phạm thánh, mà Bí Tích Hòa Giải và Bí tích Hôn phối do ngài cử hành cũng là vô hiệu (xem Điều 1331 § 2.1).

Nếu tình trạng vạ tuyệt thông của ngài đã được nhiểu người biết cách công khai, thì tín hữu không nên tham dự bất kỳ việc cử hành nào của ngài, hoặc không xin lợi ích thiêng liêng từ ngài, ngoại trừ trong trường hợp nguy tử. Ngay cả khi ngài là linh mục duy nhất hiện diện trong khu vực, các tín hữu không nên tham dự thánh lễ Chúa Nhật và thánh lễ ngày thường do ngài cử hành.

Trong các tình huống như vậy, một Giám mục không thể "cho phép" một linh mục tiếp tục như bình thường. Giám mục có một trách nhiệm nặng nề đối với việc đảm bảo sự thánh thiện của các bí tích. Một Giám mục không thể trao một sự cho phép tích cực cho một hành động phạm thánh, mà không có Ngài, nó trở thành tội phạm thánh. Nếu Ngài quay mặt làm ngơ, Ngài sẽ phải chịu trách nhiệm về mặt đạo đức do sơ suất đáng khiển trách, và sẽ phải trả lời một số câu hỏi nghiêm trọng trong ngày Phán xét.

Đồng thời, các tín hữu không nên cho rằng vị Giám mục biết hết mọi chuyện đang xảy ra. Nếu họ có bằng chứng chắc chắn, chứ không chỉ là tin đồn, về hành vi vô luân công khai của một linh mục, họ cần trình bày cho Giám mục biết. Nếu bằng chứng là vững chắc, vị Giám mục phải tuân theo các thủ tục Giáo luật đã qui định, trước tiên là không cho linh mục ấy hành sử chức thánh, và sau đó quyết định bước tiếp theo cho linh mục ấy. Nếu Giám mục từ chối hành động, các tín hữu nên trình bày vấn đề cho Sứ thần Tòa thánh hoặc trực tiếp cho Tòa Thánh.

Trong trường hợp thứ nhất, miễn là không có sự lạm dụng trẻ vị thành niên liên quan, Giám mục nên xem xét liệu còn có bất kỳ hy vọng nào cho sự hoán cải thật sự của linh mục ấy, vốn sẽ cho phép linh mục ấy bắt đầu lại trong một tình hình khác, ở nơi mà sự yếu đuối của ngài chưa được biết tới. Tôi biết có nhiều sự hoán cải như thế, chẳng hạn như một vụ hoán cải, mà trong đó Thiên Chúa đã sử dụng một chứng bệnh nặng để đem một cha xứ tội lỗi ăn năn hối cải, và khôi phục lại ý nghĩa của sứ vụ và đời sống của mình. Ngày nay, nhiều năm sau đó, linh mục này được xem là một thừa tác viên gương mẫu của Tin Mừng.

Nếu sự thay đổi dường như là không thể được, hoặc nếu ngài lạm dụng trẻ vị thành niên, ngài cần phải bị loại bỏ khỏi sứ vụ. Nếu ngài có con cái, trách nhiệm làm bố của ngài phải là ưu tiên hơn là sống trong chức linh mục.

Trong trường hợp của linh mục bị vạ tuyệt thông tự động bằng cách xúi phá thai, sự trầm trọng của tội này phải loại trừ ngài khỏi sự hành sử chức thánh của ngài. Người ta hy vọng rằng ngài sẽ ăn năn và được dỡ bỏ vạ tuyệt thông, nhưng ngài không thể còn hoạt động như vị đại diện của Chúa Kitô. Việc loại ngài khỏi sứ vụ là một hình phạt xứng đáng và tương đối nhỏ, vì ngài đã là công cụ trong việc giết người vô tội.

Các tình huống buồn và đau lòng như vậy có thể thúc đẩy chúng ta cầu nguyện cho sự thánh thiện của các linh mục và đền bù cho tội lỗi của các vị nữa. (Zenit.org 3-8-2011)

 
Tác giả bài viết: Nguyễn Trọng Đa chuyển ngữ
Nguồn tin: Vietcatholic.org

Khi một linh mục có tội trọng, ngài cử hành Thánh lễ được không?


Giải đáp của Cha Edward McNamara, Dòng Đạo Binh Chúa Kitô (LC), Giáo sư phụng vụ của Đại học Regina Apostolorum (Nữ Vương các Thánh Tông Đồ), Rôma.

Hỏi: Cha có thể trả lời cho con các câu hỏi tế nhị này không? Khi một linh mục phạm tội trọng, và được biết đến công khai là có tội trọng (say rượu thường xuyên; giao du với phụ nữ,…) và Giám mục cho phép linh mục ấy cử hành Thánh lễ cách công khai, có điều khoản Giáo luật nào nói về việc này không? Hoặc, nếu một linh mục đã làm cho một phụ nữ có thai, sau đó khuyến khích cô ấy đi phá thai (điều có thực ở đất nước chúng tôi), liệu có sự trừng phạt nào đối với linh mục ấy, thay vì cứ để cho linh mục ấy cử hành Thánh lễ cách công khai? - K. G., Sudan

Đáp: Đây quả thật là các câu hỏi tế nhị và người ta cũng thật buồn để trả lời chúng. Tôi không phải là chuyên viên giáo luật, và do đó không thể trả lời về các sự phức tạp của qui trình giáo luật. Tuy nhiên, tôi có thể cung cấp một số gợi ý liên quan đến các bí tích.

Một linh mục phạm tội trọng, giống như bất kỳ tín hữu nào, phải tìm kiếm sự hòa giải bí tích càng sớm càng tốt. Trong khi đó, linh mục này nên tránh càng xa càng tốt việc cử hành các bí tích.

Qua chữ "càng xa càng tốt", tôi muốn nói rằng nếu linh mục không thể đi xưng tội trước khi chăm lo các nhu cầu của tín hữu, thì ngài cần ăn năn tội cách trọn và cử hành bí tích. Hành vi ăn năn tội này bao hàm cả ý định đi xưng tội càng sớm càng tốt, và quyết tâm không phạm tội nữa. Lẽ tất nhiên nguyên tắc luân lý này được áp dụng cho sự sa ngã tạm thời (và thường là bí mật).

Điều 916 của Bộ Giáo Luật nói: " Ai ý thức mình phạm tội nặng và chưa xưng tội trước, thì không được làm lễ và không được rước lễ, trừ khi có lý do quan trọng và không có dịp tiện đi xưng tội. Trong trường hợp này, họ phải tâm niệm về bổn phận thống hối trọn vẹn, bao gồm lòng dốc quyết đi xưng tội sớm ngần nào có thể (xem thêm Điều 1335)". (Bản dịch Việt ngữ của Bộ Giáo Luật do các Linh Mục Nguyễn Văn Phương, Phan Tấn Thành, Vũ Văn Thiện, Mai Ðức Vinh thực hiện).

Lưu ý rằng điều luật trên đòi hỏi “một lý do quan trọng” để tận dụng ngoại lệ này.

Một lý do quan trọng như vậy là dựa trên nguyên tắc lợi ích của các linh hồn. Nếu một linh mục phải cử hành Thánh Lễ, hoặc có người xin xưng tội, xin Bí tích Xức dầu Bệnh Nhân, hoặc bất kỳ bí tích khác từ linh mục này, vốn phải được thực hiện trước khi linh mục đi xưng tội, thì ngài có thể, và thường phải, cử hành bí tích.

Một lý do quan trọng thứ hai bắt nguồn từ nguy cơ của sự ô nhục bằng cách công khai tiết lộ tình trạng của linh hồn một người. Điều này có thể xảy ra trong trường hợp của một linh mục trong hoàn cảnh bị cô lập, khi không có ai khác để cử hành thánh lễ. Ngài không cần làm điều gì khiến cho mọi người nghi ngờ ngài đang thiếu tình trạng ân sủng.

Trường hợp, được độc giả của chúng tôi đề cập đến, bao hàm một tình hình nghiêm trọng hơn, trong đó linh mục đang công khai sống trong một tình trạng vô luân khách quan, với các dấu hiệu không rõ ràng của sự sẵn sàng thay đổi. Mặc dù chỉ có Chúa mới biết tâm hồn người ta, một tội lỗi công khai đòi hỏi một hình thức xa rời công khai khỏi đời sống tội lỗi. Các bí tích được cử hành bởi một linh mục không ăn năn là hành vi phạm thánh nghiêm trọng. Chúng có thể là thành sự, nhưng là bất hợp pháp.

Một linh mục xúi một phụ nữ phá thai là tự động bị vạ tuyệt thông, là “bất hợp luật” và bị ngăn trở không được hành sử chức thánh của mình (Các Điều 1398, 1041,4, 1043). Linh mục này không thể cử hành các bí tích và không lãnh bí tích xá giải, cho đến khi vạ tuyệt thông được chính thức dỡ bỏ. Nếu ngài tiếp tục hành sử chức thánh của mình, không những việc cử hành của ngài là phạm thánh, mà Bí Tích Hòa Giải và Bí tích Hôn phối do ngài cử hành cũng là vô hiệu (xem Điều 1331 § 2.1).

Nếu tình trạng vạ tuyệt thông của ngài đã được nhiểu người biết cách công khai, thì tín hữu không nên tham dự bất kỳ việc cử hành nào của ngài, hoặc không xin lợi ích thiêng liêng từ ngài, ngoại trừ trong trường hợp nguy tử. Ngay cả khi ngài là linh mục duy nhất hiện diện trong khu vực, các tín hữu không nên tham dự thánh lễ Chúa Nhật và thánh lễ ngày thường do ngài cử hành.

Trong các tình huống như vậy, một Giám mục không thể "cho phép" một linh mục tiếp tục như bình thường. Giám mục có một trách nhiệm nặng nề đối với việc đảm bảo sự thánh thiện của các bí tích. Một Giám mục không thể trao một sự cho phép tích cực cho một hành động phạm thánh, mà không có Ngài, nó trở thành tội phạm thánh. Nếu Ngài quay mặt làm ngơ, Ngài sẽ phải chịu trách nhiệm về mặt đạo đức do sơ suất đáng khiển trách, và sẽ phải trả lời một số câu hỏi nghiêm trọng trong ngày Phán xét.

Đồng thời, các tín hữu không nên cho rằng vị Giám mục biết hết mọi chuyện đang xảy ra. Nếu họ có bằng chứng chắc chắn, chứ không chỉ là tin đồn, về hành vi vô luân công khai của một linh mục, họ cần trình bày cho Giám mục biết. Nếu bằng chứng là vững chắc, vị Giám mục phải tuân theo các thủ tục Giáo luật đã qui định, trước tiên là không cho linh mục ấy hành sử chức thánh, và sau đó quyết định bước tiếp theo cho linh mục ấy. Nếu Giám mục từ chối hành động, các tín hữu nên trình bày vấn đề cho Sứ thần Tòa thánh hoặc trực tiếp cho Tòa Thánh.

Trong trường hợp thứ nhất, miễn là không có sự lạm dụng trẻ vị thành niên liên quan, Giám mục nên xem xét liệu còn có bất kỳ hy vọng nào cho sự hoán cải thật sự của linh mục ấy, vốn sẽ cho phép linh mục ấy bắt đầu lại trong một tình hình khác, ở nơi mà sự yếu đuối của ngài chưa được biết tới. Tôi biết có nhiều sự hoán cải như thế, chẳng hạn như một vụ hoán cải, mà trong đó Thiên Chúa đã sử dụng một chứng bệnh nặng để đem một cha xứ tội lỗi ăn năn hối cải, và khôi phục lại ý nghĩa của sứ vụ và đời sống của mình. Ngày nay, nhiều năm sau đó, linh mục này được xem là một thừa tác viên gương mẫu của Tin Mừng.

Nếu sự thay đổi dường như là không thể được, hoặc nếu ngài lạm dụng trẻ vị thành niên, ngài cần phải bị loại bỏ khỏi sứ vụ. Nếu ngài có con cái, trách nhiệm làm bố của ngài phải là ưu tiên hơn là sống trong chức linh mục.

Trong trường hợp của linh mục bị vạ tuyệt thông tự động bằng cách xúi phá thai, sự trầm trọng của tội này phải loại trừ ngài khỏi sự hành sử chức thánh của ngài. Người ta hy vọng rằng ngài sẽ ăn năn và được dỡ bỏ vạ tuyệt thông, nhưng ngài không thể còn hoạt động như vị đại diện của Chúa Kitô. Việc loại ngài khỏi sứ vụ là một hình phạt xứng đáng và tương đối nhỏ, vì ngài đã là công cụ trong việc giết người vô tội.

Các tình huống buồn và đau lòng như vậy có thể thúc đẩy chúng ta cầu nguyện cho sự thánh thiện của các linh mục và đền bù cho tội lỗi của các vị nữa. (Zenit.org 3-8-2011)

 
Tác giả bài viết: Nguyễn Trọng Đa chuyển ngữ
Nguồn tin: Vietcatholic.org

8 thg 8, 2013


“Những buổi đầu tiên của sự sống” : Làm sao cặp vợ chồng vô sinh có thể thực hiện ước mơ có con cái ?
 Những kỹ thuật hỗ trợ sinh sản đã tiến bộ vượt bậc trong nhiều năm nay, nhất là trong việc thụ tinh nhân tạo.
1.- Thụ tinh nhân tạo :
Ngày nay, đó là phương pháp được dùng thường xuyên nhất để chữa trị vô sinh. Trước nhất, ta hãy xem sự vô sinh do kém về mặt sinh lý hay về tâm lý của người đàn ông.
Sự thụ tinh nhân tạo cho phép một cặp vợ chồng có con bằng cách thụ tinh với tinh trùng người chồng (thụ tinh nhân tạo cùng nguồn) hoặc thụ tinh với tinh trùng của người cho vô danh (thụ tinh nhân tạo khác nguồn).
Những kỹ thuật này cho phép chủ động kiểm soát tiến trình hình thành sự sống nhưng cũng đặt ra những vấn đề to lớn về đạo đức, tâm lý, pháp lý …. Hơn thế nữa, sự thụ tinh nhân tạo được phổ biến từ từ và người ta chứng kiến sự thành lập nhiều trung tâm cho phép sử dụng tinh trùng được tích trữ lạnh. Vài quốc gia ban hành luật trong lãnh vực này.
Giáo huấn của Giáo hội trong lãnh vực này dựa vào sự xác định của mối dây liên kết giữa sự hợp nhất vợ chồng và việc sinh sản con cái, dựa trên bản chất nhân bản của hành vi giao hợp và của sự sinh sản con cái.
 Làm sao đánh giá đạo đức sự thụ tinh nhân tạo cùng nguồn ?
       Giáo huấn mới đây của Bộ Tín lý Đức Tin, Donum Vitae về “tôn trọng sự sống con người mới chớm sinh và phẩm giá của sự sinh sản” ngày 22. 2. 1987 cho câu trả lời :
     “Sự thụ tinh nhân tạo cùng nguồn giữa lòng hôn nhân không thể chấp nhận được, trừ phi phương tiện kỹ thuật không thay thế cho hành vi giao hợp, nhưng trợ giúp cho hành vi đó đạt tới mục tiêu (số 6). Kỹ thuật như thế phục vụ sự thân mật vợ chồng và sửa chữa những thiếu sót của nó. Sự đau khổ của các cặp vợ chồng vô sinh là một thực tế cụ thể. Các khó khăn của họ đã được lắng nghe trong chừng mực để giúp họ có một quan hệ vợ chồng đích thực.
Ngược lại, tình hình khác đi khá nhiều trong trường hợp thụ tinh nhân tạo khác nguồn (tinh trùng của một người cho “vô danh”, không phải của người chồng). “Việc nhờ đến phôi tử của người thứ ba, để đặt tinh trùng hay trứng, là một sự xâm phạm đến cam kết hỗ tương của đôi vợ chồng và là một thiếu sót nghiêm trọng đối với sự hiệp nhất, đặc tính cơ bản của hôn nhân” (số 2).
2.- Thụ tinh trong ống nghiệm và cấy ghép phôi thai đã thụ tinh vào dạ con (FIVETTE) :
Về vấn đề này, giáo huấn của Bộ Tín lý Đức Tin ngày 22.2.1987 đã có ý kiến. Tài liệu này xác nhận sự kính trọng đối với những phôi thai và nhắc lại sự liên kết không thể phá bỏ giữa hai ý nghĩa của hành vi giao hợp : hiệp nhất và sinh sản. Tài liệu nghiêng về sự bất hợp pháp của cấy ghép phôi đã thụ tinh vào dạ con cùng nguồn, nghĩa là sự thụ tinh nhân tạo từ chính cặp vợ chồng.
Quan điểm này không được những người cay đắng đau khổ vì vô sinh chấp nhận. Nhưng phải nhìn nhận điều này : đối với hàng ngàn cặp vô sinh, kỹ thuật thụ thai trong ống nghiệm là phương cách duy nhất để thực hiện ước muốn có con của họ.
Ta hãy đọc chứng từ của một người, vừa là thầy thuốc vừa là mẹ gia đình công giáo. Bà đã chọn phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm.
ĐÂY LÀ CHỨNG TỪ
Với tư cách là một bác sĩ, đã phục vụ một nghiên cứu khoa học, với tư cách là một người mẹ Công giáo đã trải nghiệm cách chữa trị này, tôi xin nêu ý kiến về vấn đề Fivette có nghĩa là thụ tinh trong ống nghiệm và cấy ghép phôi thai. Bài của tôi gồm hai phần : Khía cạnh y khoa và khía cạnh cá nhân.
1.- Khía cạnh y khoa :
Trước khi đề cập khía cạnh đạo đức của vấn đề, phải biết khía cạnh thực hành, có nghĩa là toàn bộ các dữ liệu thật . Những bản sao kèm theo đây mô tả những dữ liệu này, và tóm tắt lịch trình phải theo trong điều trị, khá nặng nề chịu đựng.
 Đây là một phương pháp chũa trị bệnh vô sinh phụ nữ. Phương pháp mà chúng tôi sắp mô tả làm đoản mạch (ngăn chặn) nơi thụ tinh bình thường (ở vòi Falloppe) vì nhiều lý do : vòi bị nghẽn do nhiễm trùng, bị viêm màng tử cung v.v… , bị thai ngoài tử cung hay bị vô sinh tự phát có nghĩa là không rõ lý do.
Loại chữa trị này có vài rủi ro : đòi hỏi một hoặc nhiều lần nhập viện, khá đắt, phải lập lại nhiều lần nếu thất bại, đòi hỏi nhiều nghị lực tinh thần.
 Từ khi người ta lấy được trứng chưa rụng nhờ phương pháp hút qua siêu âm, rủi ro do giải phẫu đã bớt và dù luôn có một rủi ro nào đó, đây không phải là một phương pháp quá nguy hiểm cho sức khỏe người phụ nữ. Theo tôi, nguy hiểm chính là ở chỗ có thể mang thai với nhiều thai nhi, có nghĩa là một bụng chửa hai con hoặc nhiều hơn nữa và như thế là có nguy cơ sinh con non. Như thế, nguy hiểm là sinh non kéo theo con bị chết, nằm viện kéo dài trong khoa săn sóc đặc biệt và rủi ro di chứng thần kinh lâu dài. Không nên quên rằng : nếu những đứa bé sinh ra trong điều kiện tốt, và sống sót, thì chăm lo cùng lúc cho hai, ba, bốn bé cùng một lứa tuổi cũng là một gánh nặng nề và đầy thử thách. 
 Cũng nên lưu ý rằng không có nhiều trẻ dị tật trong đám trẻ sinh trong ống nghiệm hơn trẻ được sinh bình thường.
Những nhóm mà tôi biết, tôi nghĩ là họ nghiêm túc. Tôi tin, dù không có bằng chứng, là họ tôn trọng ý nguyện của những người muốn có con trong việc xử lý các trứng và phôi thai dư thừa (chúng được đông lạnh, có thể cho một phụ nữ khác, có thể dùng cho thí nghiệm …..). Tuy nhiên, việc xử lý này cũng có rủi ro. 
Tôi nghĩ rằng, rủi ro sau cùng mà nhân loại gánh chịu với phưong pháp thụ thai bằng cách hút trứng từ người phụ nữ là có khả năng bị thao túng về vấn đề di truyền mà ta chưa lường được những hậu quả về lâu về dài : đứa bé được sinh ra từ người mẹ không phải là mẹ di truyền (nghĩa là cho trứng), đứa bé sinh ra từ cha và mẹ không phải là cha lẫn mẹ di truyền (cho trứng và tinh trùng), đứa bé có cha mẹ di truyền nhưng phát triển trong bụng mượn của một phụ nữ và sau đó được cha mẹ di truyền nuôi dưỡng, và tại sao trong tương lai, lại không có việc đưa gien vào trong trứng chưa được thụ tinh, với mục đích loại bỏ một bệnh di truyền, hay với mục đích loại bỏ một đặc điểm di truyền, đặc biệt với chủ ý tốt (để tối ưu hóa nòi giống) hay chủ ý xấu (một dạng đấu tranh chủng tộc, làm giảm tiềm năng một chủng tộc … )
Suy cho cùng, mọi khám phá mới để phát triển nhân loại đã đưa ta trở lại với câu nói nổi tiếng : “Khoa học không lương tâm chỉ là sự đổ nát của linh hồn”.
 2.- Khía cạnh cá nhân :
Như nhiều người phụ nữ khác, tôi và chồng tôi cùng ước ao có những đứa con trong khung cảnh đời sống bình thường, ổn định và được cưới nhau. Đối với chúng tôi, sự chữa trị vô sinh bằng phương pháp Fivette là mức đến một hành trình dài nhiều năm mà chúng tôi đã hoài công tìm hiểu tại sao chồng tôi và tôi không có con. Chúng tôi lọt vào vấn đề vô sinh tự phát. Một loạt ấn tượng cách chữa trị ít nhiều được khoa học biện minh đã đưa chúng tôi đến thất bại, và như vậy, phương pháp Fivette là sự cầu cứu sau cùng trước khi chọn nuôi con nuôi. Những năm đó đã làm chúng tôi suy sụp, đôi khi cay cú, và thường khó chịu trước các gia đình có con cái. Chúng tôi còn cảm thấy mình là người bên lề đối với gia đình và công việc làm của chúng tôi.
Với vai trò bác sĩ, tôi lo cho con cái người khác. Tôi ước ao có một đứa bé thật sự của chúng tôi . Tôi muốn biết tận nội tâm tình cảm của tất cả những người đàn bà mà tôi gặp hằng ngày với trẻ sơ sinh của họ.
Tôi đã được chữa trị theo phương pháp này, từ 4 năm, vào lúc mà những tuyên bố của Toà Thánh Rôma chưa nói rõ về Fivette. Dù gì đi nữa, tôi cũng làm trái luật Toà Thánh. Không một giây phút nào tôi tưởng tượng được là Thiên Chúa không cho tôi có con bằng cách ấy. Tôi tiếp tục tin rằng Chính Thiên Chúa đã cho tôi đứa bé trai mà tôi đã dâng cho Người mỗi buổi tối khi cho bé vào giường ngủ.
Tuổi tác tôi, nghề nghiệp tôi và những ràng buộc gia đình gia đình khác không cho phép tôi lập lại  cách điều trị này. Tôi hạnh phúc với đứa con trai duy nhất của mình. Đứa bé nghịch ngợm của chúng tôi đã thay đổi cuộc đời của chúng tôi.
Tôi luôn không hiểu tại sao những chức sắc tôn giáo không cho phép chữa trị theo phương pháp Fivette đối với các cặp vợ chồng ổn định, mỗi người thật sự là cha mẹ di truyền của đứa trẻ.
Tôi có ý kiến ra sao với tư cách là một phụ nữ của thế kỷ 20, đã kết hôn, Công giáo, có trình độ đại học, nghiên cứu khoa học, sống giữa một thế giới vô thần? 
Tôi nghĩ rằng Fivette là một tiến bộ và phải được áp dụng cho những người ý thức được những rủi ro gặp phải (thất bại, sinh non, thai nhiều con …) và ý thức rằng những lần điều trị rất khó chịu.
Fivette có thể là con đường đưa tới những thao túng mà người ta chưa lường được hậu quả (mẹ mang thai hộ, sử dụng các phôi thai …). Như Giáo hội xác nhận, tôi tin rằng, phải nhấn mạnh để người trong cuộc biết làm cha mẹ một cách có trách nhiệm. Giáo hội phải là người tư vấn. Giáo hội phải cảnh báo, nhắc nhở nhưng không được ngăn cấm một cách đơn giản.
Giáo hội cần thôi xem các tín đồ như những người có tội hoặc vô trách nhiệm. Giáo hội cần để cho mỗi người khả năng chọn lựa, trước Thiên Chúa, tùy theo lương tâm của mình. Cá nhân mà nói, tôi không bao giờ ước muốn một thụ tinh nhân tạo của một người cho vô danh. Tôi nghĩ rằng nguyên tắc bà mẹ mang thai hộ là một lầm lạc tâm lý nhưng nếu có ai đó sống trong tình yêu thì tại sao ngăn cấm họ điều đó ?
Tôi nghĩ rằng vấn đề phôi thai dư thừa là một vấn đề sai. Trong thiên nhiên, có vô số trứng đã thụ tinh và đã bị mất đi một cách tự nhiên lắm lúc trước khi người phụ nữ nhận ra mình đã mang thai. Và ai lại lên án những vụ xẩy thai ?
Cấy vào hơn ba phôi thai là vô nghĩa vì mang thai nhiều con có rủi ro nghiêm trọng. Vậy phải bằng lòng chọn giải pháp đông lạnh với số dôi ra. Kỹ thuật này khó chịu đựng đối với nhiều phôi thai, nhưng đối với tôi, đó là một kỹ thuật đúng đắn hơn phương pháp giết chết một số phôi thai khi nó bị dôi ra sau nhiều tuần thai nghén.
Kết luận :
FIVETTE là một trong nhiều chữa trị vô sinh và là một cách chữa lành thể chất và tâm lý cho nhiều cặp vợ chồng. Tất nhiên đó cũng là cánh cửa mở ra nhiều tình huống tâm lý và nhiều vấn đề đạo đức mà người ta chưa lường hết tác động. Fivette đơn giản cho một cặp vợ chồng ổn định nằm trong trường hợp cha mẹ có trách nhiệm. Tôi không hiểu tại sao những nhà chức sắc Rôma cấm đoán phương pháp này. Không có gì để sợ rằng phương pháp sinh sản này sẽ lan rộng phổ biến vì tôi tin rằng nhân loại sẽ luôn luôn thích khoái cảm của hành vi tình dục hơn là những lo âu và rủi ro của Fivette !
CÂU HỎI BÀI 20
1.- Xin cho biết quan điểm của bạn sau khi đọc bài 20 này ?
2.- Qua chứng từ cụ thể trong bài, bạn có nghĩ rằng nói cách nào đó, thụ tinh trong ống nghiệm cùng nguồn có thể là một chứng cứ tình yêu hôn nhân có trách nhiệm, và cũng là một chứng cứ hiệp thông  với Thiên Chúa không ?
(Lưu ý: Thụ tinh cùng nguồn : tinh trùng của người chồng, trứng của người vợ. Thụ tinh khác nguồn : có yếu tố của người thứ ba xen vào )

Bài 20 – Đọc thêm
THỤ TINH TRONG ỐNG NGHIỆM
  1. Một số thông tin
Theo tự điển Quid 1996 (tr.148 la), Louise Joy Brown ở nước Anh là người đầu tiên đã được thụ tinh trong ống nghiệm, sinh ra ngày 25-7-1978. Cha mẹ là R. Edwards và P.Steptoe. Lấy một trứng noãn của mẹ cho thụ tinh ( ngày 10-11-1977) với tinh trùng của chồng hoặc của một người thú ba vô danh (?) ở phòng thí nghiệm. Để trứng đã thụ tinh phát triển trong ống nghiệm = in vitro 3 ngày. Sau đó cấy thử vào tử cung bà mẹ lúc tế bào đầu tiên đã phát triển thành 8 tế bào.
Ở Việt Nam, Bệnh viện Từ Dũ Sàigòn đã cho sinh ra thành công một cháu bé theo phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm cách đây vài năm. Và theo tin tức, bệnh viện đã thực hiện 220. Đã có 16 cháu bé chào đời và còn 16 ca cón trong bụng mẹ tiếp tục ra đời trong năm 2000. Đến nay đã có 2000 bé chào đời.
Theo thống kê ở tự điển Quid thì ở Pháp từ 1982 đến 1992 đã có 20000 cháu bé sinh ra theo phương pháp này, quen gọi là FIVETTE = Fiv. Thống kê còn cho biết vài chi tiết chết 2,4%; dị tướng 2,8% ; sinh đôi 20% ; sinh ba 4% . Mỗi vụ thụ tinh in vitro tốn 50000 FF.
Thụ tinh trong ống nghiệm có thể kéo theo việc mang thai và đẻ mướn với bao ràng buộc phức tạp về pháp lý, về xã hội. Năm 1977 ở Anh, bà Mary Beth Whitehead (29 tuổi)  hợp đồng chửa và đẻ con mướn cho vợ chồng William Stern (41 tuổi) và Elizabeth Stern (41 tuổi). Sinh ra cháu Melissa, bà Mary đòi quyền làm mẹ nó. Sau tòa án đã phải can thiệp, bắt trả bé Melissa cho vợ chồng Stern theo hợp đồng với số tiền 18 000 USD. Lại nữa nhiều nơi đã thành lập ngân hàng phôi người, ngân hàng tinh trùng, để xử lý khi cần thụ tinh in vitro. Theo thống kê của Quid thì từ 1985 đến 1991 đã có 22 000 phôi người dự trử cho 5500 đôi vợ chồng. Năm 1992 : 6500 phôi cho 1400 cặp và 3800 phôi trử lạnh.
  1. Thụ tinh trong ống nghiệm là gì?
Linh mục Hoàng Quốc Trương, một nhà sinh học đã viết cho báo CG và DT :
Thụ tinh trong ống nghiệm là dịch từ = test tube insemination, artificial insemination, nghĩa là thực hiện phối hợp tinh trùng với noãn cầu ngoài hệ sinh dục nữ, tức là trong ống nghiệm.
Kỹ thuật thụ tinh nhân tạo thoạt đầu đã được thực hiện để chữa trị chứng hiếm muộn, như trường hợp những cặp vợ chồng lấy nhau đã từ lâu mà không có con . Lúc đó, hai vợ chồng tới bệnh viện phụ sản, các chuyên viên sẽ lấy tinh trùng của người chồng chứa trong tinh dịch (semen) và lấy noãn cầu đã đến thời kỳ rụng trứng (ovulation) cho phối hợp trong ống nghiệm chờ cho trứng thụ tinh bắt đầu phân chia, rồi cho trở lại vô tử cung của người vợ. Trứng sẽ bám vào vách tử cung và phát triển bình thường.
Trong trường hợp người vợ không có khả năng mang thai, hay không muốn mang thai (vì sợ bị sẩy thai) thì trứng thụ tinh được cấy vào tử cung của một phụ nữ khác thụ thai dùm, với điều kiện sau khi đẻ, phải trả lại đứa con cho cha mẹ thực thụ. Thụ tinh nhân tạo cũng áp dụng trong trường hợp tinh dịch không bình thường, như trường hợp loãng tinh dịch (sperm inssufficiency) – Một phân khối tinh dịch bình thường phải chứa ít nhất là hai triệu tinh trùng khỏe mạnh. Trường hợp loãng tinh dịch một phân khối tinh dịch chứa 100-200000 tinh trùng, để mẫu đạt hai triệu tinh trùng/phân khối. Sau đó tiến hành thụ tinh nhân tạo.
Nhưng nếu số tinh trùng trong tinh dịch quá ít, hay toàn là tinh trùng yếu ớt, bệnh hoạn, không có khả năng thụ tinh thì sao? Lúc đó phải nhờ đến ngân hàng tinh trùng (sperm bank) chuyên bảo quản các mẫu tinh trùng trong phòng lạnh, do các người cho (sperm donor) đã được xác định rất kỹ là không có bệnh di truyền, có hệ gien tốt... Căn cước của người cho được giữ kín, đề phòng rắc rối có thể xảy ra sau này. Với mẫu tinh trùng nay, thực hiện thụ tinh nhân tạo, rồi cấy trứng thụ tinh vào tử cung của người vợ.”
  1. Kitô hữu nghĩ gì về thụ tinh in vitro ?
Thông thường Giáo hội Công Giáo không chấp nhận cách sinh con in vitro, vì cớ tình yêu vợ chồng bị tổn thương, tình mẹ con cha con bị hề hấn, nhiều lạm dụng cho thương mại đứa con hoặc “cho thuê tử cung” với giá hậu hĩ, gây lộn xộn xã hội do quyền lợi và nghĩa vụ đối với đứa con được sinh ra...
Giáo hội chỉ chấp nhận việc sinh con bằng giao hợp tính dục bình thường .Không chấp nhận có con bằng mua bán hay hiến tặng tinh trùng ở “một ngân hàng tinh trùng”, với những “người cho” được chọn lọc và không lấy tiền (ví dụ tình nhân – người thông minh để chọn giống ưu việt), hay với những “người bán” với giá hậu hĩ. Không chấp nhận được còn vì những vấn đề pháp lý phức tạp, vô luân, có khi còn gây ra thảm kịch. Ví dụ : mẹ gà con vịt- mẹ “nuôi mướn” lại đòi quyền làm mẹ thật đang khi mẹ thật lại mất đi cái khổ đồng thời cũng là cái hạnh phúc “mang nặng đẻ đau”. Càng không thể chấp nhận được khi dùng các phôi người vào việc thí nghiệm khoa học, vào việc chọn giống người ưu việt, kèm theo hủy diệt những phôi yếu kém .
Không thể chấp nhận, vì tất cả những gì liên hệ đến người mẹ cung cấp noãn, đến người cung cấp tinh trùng, đến đứa con, đến phụ nữ cho thuê tử cung, đều vô luân, vi phạm đến phẩm giá làm người. Càng vi phạm đến phẩm giá làm vợ chồng, cha mẹ, con cái. Bào thai, con người tí hon khi đó giống như một chất liệu của phòng thí nghiệm, có thể mua bán, có thể sử dụng tùy tiện. “Cha” , “Mẹ” bé cũng chẳng tha thiết vì lẽ tinh trùng hay noãn có thể không thuộc về hai vợ chồng; đứa con lúc đó không thể coi là con của họ theo đầy đủ ý nghĩa. Thậm chí đứa bé sinh ra có thể là đứa con ngoại tình gián tiếp do noãn hay tinh trùng được cung cấp bởi tình nhân.
Cũng phải thêm rằng việc sử dụng  tinh trùng hay noãn của những người vô danh thì nếu những đứa bé chào đời đều được thụ tinh bởi một người “cha’ hay cùng một ‘mẹ” thì khi lớn lên mấy đứa đó tình cờ gặp gỡ, kết duyên vợ chồng sẽ phạm tội loạn luân mà không biết. Và điều này theo khoa học, có thể gây dị tật cho con cháu về sau. Đối với các bà mang thai dùm, có thể là người dưng nước lã (cho thuê tử cung), có thể là người thân như mẹ, chị em ruột, cô dì , thì có thể đoán ra mối liên hệ xã hội và tâm lý bấy giờ sẽ phức tạp biết bao, đặc biệt là khi người mang thai dùm lại là mẹ ruột của bà “mẹ” cho noãn !
Tuy nhiên, mong muốn có con là sự ước muốn chính đáng của vợ chồng. Vì đứa con là biếu hiện, là  thành quả của tình yêu thắm thiết giữa hai người. Song đôi khi họ không thể có con vì trục trặc cơ thể như ống dẫn trứng fallope bị tắc nghẽn mà không thể xử lý bằng giải phấu, thì sự can thiệp y học để giúp đôi vợ chồng có con, không bằng giao hợp âu yếm, song bằng một cách thế nào đó cho đôi bạn vẫn bảo toàn được tình yêu cho vợ chồng lẫn đứa con sẽ sinh ra, thì hành vi đó còn được coi là hợp luân lý. Cha Th.Rey Memet thuật lại : “ Ngày 25-7-1978, bé Louise Joy Brown đã ra đời tại Oldham, Anh quốc. Em là đứa trẻ đầu tiên trong lịch sử được cưu mang ngoài dạ mẹ em. Đức Hồng Y Albino Luciani, vị Giáo hoàng Gioan Phaolô I tương lai, đã gởi điện chúc mừng hai cha mẹ may mắn này mà sự hiếm hoi đã làm họ đau khổ bấy lâu nay.”
Gm. Nguyễn Bình Tĩnh
Giáo phận Đà nẳng

Thụ tinh trong ống nghiệm và chuyển dịch phôi thai.


“Những buổi đầu tiên của sự sống” : Làm sao cặp vợ chồng vô sinh có thể thực hiện ước mơ có con cái ?
 Những kỹ thuật hỗ trợ sinh sản đã tiến bộ vượt bậc trong nhiều năm nay, nhất là trong việc thụ tinh nhân tạo.
1.- Thụ tinh nhân tạo :
Ngày nay, đó là phương pháp được dùng thường xuyên nhất để chữa trị vô sinh. Trước nhất, ta hãy xem sự vô sinh do kém về mặt sinh lý hay về tâm lý của người đàn ông.
Sự thụ tinh nhân tạo cho phép một cặp vợ chồng có con bằng cách thụ tinh với tinh trùng người chồng (thụ tinh nhân tạo cùng nguồn) hoặc thụ tinh với tinh trùng của người cho vô danh (thụ tinh nhân tạo khác nguồn).
Những kỹ thuật này cho phép chủ động kiểm soát tiến trình hình thành sự sống nhưng cũng đặt ra những vấn đề to lớn về đạo đức, tâm lý, pháp lý …. Hơn thế nữa, sự thụ tinh nhân tạo được phổ biến từ từ và người ta chứng kiến sự thành lập nhiều trung tâm cho phép sử dụng tinh trùng được tích trữ lạnh. Vài quốc gia ban hành luật trong lãnh vực này.
Giáo huấn của Giáo hội trong lãnh vực này dựa vào sự xác định của mối dây liên kết giữa sự hợp nhất vợ chồng và việc sinh sản con cái, dựa trên bản chất nhân bản của hành vi giao hợp và của sự sinh sản con cái.
 Làm sao đánh giá đạo đức sự thụ tinh nhân tạo cùng nguồn ?
       Giáo huấn mới đây của Bộ Tín lý Đức Tin, Donum Vitae về “tôn trọng sự sống con người mới chớm sinh và phẩm giá của sự sinh sản” ngày 22. 2. 1987 cho câu trả lời :
     “Sự thụ tinh nhân tạo cùng nguồn giữa lòng hôn nhân không thể chấp nhận được, trừ phi phương tiện kỹ thuật không thay thế cho hành vi giao hợp, nhưng trợ giúp cho hành vi đó đạt tới mục tiêu (số 6). Kỹ thuật như thế phục vụ sự thân mật vợ chồng và sửa chữa những thiếu sót của nó. Sự đau khổ của các cặp vợ chồng vô sinh là một thực tế cụ thể. Các khó khăn của họ đã được lắng nghe trong chừng mực để giúp họ có một quan hệ vợ chồng đích thực.
Ngược lại, tình hình khác đi khá nhiều trong trường hợp thụ tinh nhân tạo khác nguồn (tinh trùng của một người cho “vô danh”, không phải của người chồng). “Việc nhờ đến phôi tử của người thứ ba, để đặt tinh trùng hay trứng, là một sự xâm phạm đến cam kết hỗ tương của đôi vợ chồng và là một thiếu sót nghiêm trọng đối với sự hiệp nhất, đặc tính cơ bản của hôn nhân” (số 2).
2.- Thụ tinh trong ống nghiệm và cấy ghép phôi thai đã thụ tinh vào dạ con (FIVETTE) :
Về vấn đề này, giáo huấn của Bộ Tín lý Đức Tin ngày 22.2.1987 đã có ý kiến. Tài liệu này xác nhận sự kính trọng đối với những phôi thai và nhắc lại sự liên kết không thể phá bỏ giữa hai ý nghĩa của hành vi giao hợp : hiệp nhất và sinh sản. Tài liệu nghiêng về sự bất hợp pháp của cấy ghép phôi đã thụ tinh vào dạ con cùng nguồn, nghĩa là sự thụ tinh nhân tạo từ chính cặp vợ chồng.
Quan điểm này không được những người cay đắng đau khổ vì vô sinh chấp nhận. Nhưng phải nhìn nhận điều này : đối với hàng ngàn cặp vô sinh, kỹ thuật thụ thai trong ống nghiệm là phương cách duy nhất để thực hiện ước muốn có con của họ.
Ta hãy đọc chứng từ của một người, vừa là thầy thuốc vừa là mẹ gia đình công giáo. Bà đã chọn phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm.
ĐÂY LÀ CHỨNG TỪ
Với tư cách là một bác sĩ, đã phục vụ một nghiên cứu khoa học, với tư cách là một người mẹ Công giáo đã trải nghiệm cách chữa trị này, tôi xin nêu ý kiến về vấn đề Fivette có nghĩa là thụ tinh trong ống nghiệm và cấy ghép phôi thai. Bài của tôi gồm hai phần : Khía cạnh y khoa và khía cạnh cá nhân.
1.- Khía cạnh y khoa :
Trước khi đề cập khía cạnh đạo đức của vấn đề, phải biết khía cạnh thực hành, có nghĩa là toàn bộ các dữ liệu thật . Những bản sao kèm theo đây mô tả những dữ liệu này, và tóm tắt lịch trình phải theo trong điều trị, khá nặng nề chịu đựng.
 Đây là một phương pháp chũa trị bệnh vô sinh phụ nữ. Phương pháp mà chúng tôi sắp mô tả làm đoản mạch (ngăn chặn) nơi thụ tinh bình thường (ở vòi Falloppe) vì nhiều lý do : vòi bị nghẽn do nhiễm trùng, bị viêm màng tử cung v.v… , bị thai ngoài tử cung hay bị vô sinh tự phát có nghĩa là không rõ lý do.
Loại chữa trị này có vài rủi ro : đòi hỏi một hoặc nhiều lần nhập viện, khá đắt, phải lập lại nhiều lần nếu thất bại, đòi hỏi nhiều nghị lực tinh thần.
 Từ khi người ta lấy được trứng chưa rụng nhờ phương pháp hút qua siêu âm, rủi ro do giải phẫu đã bớt và dù luôn có một rủi ro nào đó, đây không phải là một phương pháp quá nguy hiểm cho sức khỏe người phụ nữ. Theo tôi, nguy hiểm chính là ở chỗ có thể mang thai với nhiều thai nhi, có nghĩa là một bụng chửa hai con hoặc nhiều hơn nữa và như thế là có nguy cơ sinh con non. Như thế, nguy hiểm là sinh non kéo theo con bị chết, nằm viện kéo dài trong khoa săn sóc đặc biệt và rủi ro di chứng thần kinh lâu dài. Không nên quên rằng : nếu những đứa bé sinh ra trong điều kiện tốt, và sống sót, thì chăm lo cùng lúc cho hai, ba, bốn bé cùng một lứa tuổi cũng là một gánh nặng nề và đầy thử thách. 
 Cũng nên lưu ý rằng không có nhiều trẻ dị tật trong đám trẻ sinh trong ống nghiệm hơn trẻ được sinh bình thường.
Những nhóm mà tôi biết, tôi nghĩ là họ nghiêm túc. Tôi tin, dù không có bằng chứng, là họ tôn trọng ý nguyện của những người muốn có con trong việc xử lý các trứng và phôi thai dư thừa (chúng được đông lạnh, có thể cho một phụ nữ khác, có thể dùng cho thí nghiệm …..). Tuy nhiên, việc xử lý này cũng có rủi ro. 
Tôi nghĩ rằng, rủi ro sau cùng mà nhân loại gánh chịu với phưong pháp thụ thai bằng cách hút trứng từ người phụ nữ là có khả năng bị thao túng về vấn đề di truyền mà ta chưa lường được những hậu quả về lâu về dài : đứa bé được sinh ra từ người mẹ không phải là mẹ di truyền (nghĩa là cho trứng), đứa bé sinh ra từ cha và mẹ không phải là cha lẫn mẹ di truyền (cho trứng và tinh trùng), đứa bé có cha mẹ di truyền nhưng phát triển trong bụng mượn của một phụ nữ và sau đó được cha mẹ di truyền nuôi dưỡng, và tại sao trong tương lai, lại không có việc đưa gien vào trong trứng chưa được thụ tinh, với mục đích loại bỏ một bệnh di truyền, hay với mục đích loại bỏ một đặc điểm di truyền, đặc biệt với chủ ý tốt (để tối ưu hóa nòi giống) hay chủ ý xấu (một dạng đấu tranh chủng tộc, làm giảm tiềm năng một chủng tộc … )
Suy cho cùng, mọi khám phá mới để phát triển nhân loại đã đưa ta trở lại với câu nói nổi tiếng : “Khoa học không lương tâm chỉ là sự đổ nát của linh hồn”.
 2.- Khía cạnh cá nhân :
Như nhiều người phụ nữ khác, tôi và chồng tôi cùng ước ao có những đứa con trong khung cảnh đời sống bình thường, ổn định và được cưới nhau. Đối với chúng tôi, sự chữa trị vô sinh bằng phương pháp Fivette là mức đến một hành trình dài nhiều năm mà chúng tôi đã hoài công tìm hiểu tại sao chồng tôi và tôi không có con. Chúng tôi lọt vào vấn đề vô sinh tự phát. Một loạt ấn tượng cách chữa trị ít nhiều được khoa học biện minh đã đưa chúng tôi đến thất bại, và như vậy, phương pháp Fivette là sự cầu cứu sau cùng trước khi chọn nuôi con nuôi. Những năm đó đã làm chúng tôi suy sụp, đôi khi cay cú, và thường khó chịu trước các gia đình có con cái. Chúng tôi còn cảm thấy mình là người bên lề đối với gia đình và công việc làm của chúng tôi.
Với vai trò bác sĩ, tôi lo cho con cái người khác. Tôi ước ao có một đứa bé thật sự của chúng tôi . Tôi muốn biết tận nội tâm tình cảm của tất cả những người đàn bà mà tôi gặp hằng ngày với trẻ sơ sinh của họ.
Tôi đã được chữa trị theo phương pháp này, từ 4 năm, vào lúc mà những tuyên bố của Toà Thánh Rôma chưa nói rõ về Fivette. Dù gì đi nữa, tôi cũng làm trái luật Toà Thánh. Không một giây phút nào tôi tưởng tượng được là Thiên Chúa không cho tôi có con bằng cách ấy. Tôi tiếp tục tin rằng Chính Thiên Chúa đã cho tôi đứa bé trai mà tôi đã dâng cho Người mỗi buổi tối khi cho bé vào giường ngủ.
Tuổi tác tôi, nghề nghiệp tôi và những ràng buộc gia đình gia đình khác không cho phép tôi lập lại  cách điều trị này. Tôi hạnh phúc với đứa con trai duy nhất của mình. Đứa bé nghịch ngợm của chúng tôi đã thay đổi cuộc đời của chúng tôi.
Tôi luôn không hiểu tại sao những chức sắc tôn giáo không cho phép chữa trị theo phương pháp Fivette đối với các cặp vợ chồng ổn định, mỗi người thật sự là cha mẹ di truyền của đứa trẻ.
Tôi có ý kiến ra sao với tư cách là một phụ nữ của thế kỷ 20, đã kết hôn, Công giáo, có trình độ đại học, nghiên cứu khoa học, sống giữa một thế giới vô thần? 
Tôi nghĩ rằng Fivette là một tiến bộ và phải được áp dụng cho những người ý thức được những rủi ro gặp phải (thất bại, sinh non, thai nhiều con …) và ý thức rằng những lần điều trị rất khó chịu.
Fivette có thể là con đường đưa tới những thao túng mà người ta chưa lường được hậu quả (mẹ mang thai hộ, sử dụng các phôi thai …). Như Giáo hội xác nhận, tôi tin rằng, phải nhấn mạnh để người trong cuộc biết làm cha mẹ một cách có trách nhiệm. Giáo hội phải là người tư vấn. Giáo hội phải cảnh báo, nhắc nhở nhưng không được ngăn cấm một cách đơn giản.
Giáo hội cần thôi xem các tín đồ như những người có tội hoặc vô trách nhiệm. Giáo hội cần để cho mỗi người khả năng chọn lựa, trước Thiên Chúa, tùy theo lương tâm của mình. Cá nhân mà nói, tôi không bao giờ ước muốn một thụ tinh nhân tạo của một người cho vô danh. Tôi nghĩ rằng nguyên tắc bà mẹ mang thai hộ là một lầm lạc tâm lý nhưng nếu có ai đó sống trong tình yêu thì tại sao ngăn cấm họ điều đó ?
Tôi nghĩ rằng vấn đề phôi thai dư thừa là một vấn đề sai. Trong thiên nhiên, có vô số trứng đã thụ tinh và đã bị mất đi một cách tự nhiên lắm lúc trước khi người phụ nữ nhận ra mình đã mang thai. Và ai lại lên án những vụ xẩy thai ?
Cấy vào hơn ba phôi thai là vô nghĩa vì mang thai nhiều con có rủi ro nghiêm trọng. Vậy phải bằng lòng chọn giải pháp đông lạnh với số dôi ra. Kỹ thuật này khó chịu đựng đối với nhiều phôi thai, nhưng đối với tôi, đó là một kỹ thuật đúng đắn hơn phương pháp giết chết một số phôi thai khi nó bị dôi ra sau nhiều tuần thai nghén.
Kết luận :
FIVETTE là một trong nhiều chữa trị vô sinh và là một cách chữa lành thể chất và tâm lý cho nhiều cặp vợ chồng. Tất nhiên đó cũng là cánh cửa mở ra nhiều tình huống tâm lý và nhiều vấn đề đạo đức mà người ta chưa lường hết tác động. Fivette đơn giản cho một cặp vợ chồng ổn định nằm trong trường hợp cha mẹ có trách nhiệm. Tôi không hiểu tại sao những nhà chức sắc Rôma cấm đoán phương pháp này. Không có gì để sợ rằng phương pháp sinh sản này sẽ lan rộng phổ biến vì tôi tin rằng nhân loại sẽ luôn luôn thích khoái cảm của hành vi tình dục hơn là những lo âu và rủi ro của Fivette !
CÂU HỎI BÀI 20
1.- Xin cho biết quan điểm của bạn sau khi đọc bài 20 này ?
2.- Qua chứng từ cụ thể trong bài, bạn có nghĩ rằng nói cách nào đó, thụ tinh trong ống nghiệm cùng nguồn có thể là một chứng cứ tình yêu hôn nhân có trách nhiệm, và cũng là một chứng cứ hiệp thông  với Thiên Chúa không ?
(Lưu ý: Thụ tinh cùng nguồn : tinh trùng của người chồng, trứng của người vợ. Thụ tinh khác nguồn : có yếu tố của người thứ ba xen vào )

Bài 20 – Đọc thêm
THỤ TINH TRONG ỐNG NGHIỆM
  1. Một số thông tin
Theo tự điển Quid 1996 (tr.148 la), Louise Joy Brown ở nước Anh là người đầu tiên đã được thụ tinh trong ống nghiệm, sinh ra ngày 25-7-1978. Cha mẹ là R. Edwards và P.Steptoe. Lấy một trứng noãn của mẹ cho thụ tinh ( ngày 10-11-1977) với tinh trùng của chồng hoặc của một người thú ba vô danh (?) ở phòng thí nghiệm. Để trứng đã thụ tinh phát triển trong ống nghiệm = in vitro 3 ngày. Sau đó cấy thử vào tử cung bà mẹ lúc tế bào đầu tiên đã phát triển thành 8 tế bào.
Ở Việt Nam, Bệnh viện Từ Dũ Sàigòn đã cho sinh ra thành công một cháu bé theo phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm cách đây vài năm. Và theo tin tức, bệnh viện đã thực hiện 220. Đã có 16 cháu bé chào đời và còn 16 ca cón trong bụng mẹ tiếp tục ra đời trong năm 2000. Đến nay đã có 2000 bé chào đời.
Theo thống kê ở tự điển Quid thì ở Pháp từ 1982 đến 1992 đã có 20000 cháu bé sinh ra theo phương pháp này, quen gọi là FIVETTE = Fiv. Thống kê còn cho biết vài chi tiết chết 2,4%; dị tướng 2,8% ; sinh đôi 20% ; sinh ba 4% . Mỗi vụ thụ tinh in vitro tốn 50000 FF.
Thụ tinh trong ống nghiệm có thể kéo theo việc mang thai và đẻ mướn với bao ràng buộc phức tạp về pháp lý, về xã hội. Năm 1977 ở Anh, bà Mary Beth Whitehead (29 tuổi)  hợp đồng chửa và đẻ con mướn cho vợ chồng William Stern (41 tuổi) và Elizabeth Stern (41 tuổi). Sinh ra cháu Melissa, bà Mary đòi quyền làm mẹ nó. Sau tòa án đã phải can thiệp, bắt trả bé Melissa cho vợ chồng Stern theo hợp đồng với số tiền 18 000 USD. Lại nữa nhiều nơi đã thành lập ngân hàng phôi người, ngân hàng tinh trùng, để xử lý khi cần thụ tinh in vitro. Theo thống kê của Quid thì từ 1985 đến 1991 đã có 22 000 phôi người dự trử cho 5500 đôi vợ chồng. Năm 1992 : 6500 phôi cho 1400 cặp và 3800 phôi trử lạnh.
  1. Thụ tinh trong ống nghiệm là gì?
Linh mục Hoàng Quốc Trương, một nhà sinh học đã viết cho báo CG và DT :
Thụ tinh trong ống nghiệm là dịch từ = test tube insemination, artificial insemination, nghĩa là thực hiện phối hợp tinh trùng với noãn cầu ngoài hệ sinh dục nữ, tức là trong ống nghiệm.
Kỹ thuật thụ tinh nhân tạo thoạt đầu đã được thực hiện để chữa trị chứng hiếm muộn, như trường hợp những cặp vợ chồng lấy nhau đã từ lâu mà không có con . Lúc đó, hai vợ chồng tới bệnh viện phụ sản, các chuyên viên sẽ lấy tinh trùng của người chồng chứa trong tinh dịch (semen) và lấy noãn cầu đã đến thời kỳ rụng trứng (ovulation) cho phối hợp trong ống nghiệm chờ cho trứng thụ tinh bắt đầu phân chia, rồi cho trở lại vô tử cung của người vợ. Trứng sẽ bám vào vách tử cung và phát triển bình thường.
Trong trường hợp người vợ không có khả năng mang thai, hay không muốn mang thai (vì sợ bị sẩy thai) thì trứng thụ tinh được cấy vào tử cung của một phụ nữ khác thụ thai dùm, với điều kiện sau khi đẻ, phải trả lại đứa con cho cha mẹ thực thụ. Thụ tinh nhân tạo cũng áp dụng trong trường hợp tinh dịch không bình thường, như trường hợp loãng tinh dịch (sperm inssufficiency) – Một phân khối tinh dịch bình thường phải chứa ít nhất là hai triệu tinh trùng khỏe mạnh. Trường hợp loãng tinh dịch một phân khối tinh dịch chứa 100-200000 tinh trùng, để mẫu đạt hai triệu tinh trùng/phân khối. Sau đó tiến hành thụ tinh nhân tạo.
Nhưng nếu số tinh trùng trong tinh dịch quá ít, hay toàn là tinh trùng yếu ớt, bệnh hoạn, không có khả năng thụ tinh thì sao? Lúc đó phải nhờ đến ngân hàng tinh trùng (sperm bank) chuyên bảo quản các mẫu tinh trùng trong phòng lạnh, do các người cho (sperm donor) đã được xác định rất kỹ là không có bệnh di truyền, có hệ gien tốt... Căn cước của người cho được giữ kín, đề phòng rắc rối có thể xảy ra sau này. Với mẫu tinh trùng nay, thực hiện thụ tinh nhân tạo, rồi cấy trứng thụ tinh vào tử cung của người vợ.”
  1. Kitô hữu nghĩ gì về thụ tinh in vitro ?
Thông thường Giáo hội Công Giáo không chấp nhận cách sinh con in vitro, vì cớ tình yêu vợ chồng bị tổn thương, tình mẹ con cha con bị hề hấn, nhiều lạm dụng cho thương mại đứa con hoặc “cho thuê tử cung” với giá hậu hĩ, gây lộn xộn xã hội do quyền lợi và nghĩa vụ đối với đứa con được sinh ra...
Giáo hội chỉ chấp nhận việc sinh con bằng giao hợp tính dục bình thường .Không chấp nhận có con bằng mua bán hay hiến tặng tinh trùng ở “một ngân hàng tinh trùng”, với những “người cho” được chọn lọc và không lấy tiền (ví dụ tình nhân – người thông minh để chọn giống ưu việt), hay với những “người bán” với giá hậu hĩ. Không chấp nhận được còn vì những vấn đề pháp lý phức tạp, vô luân, có khi còn gây ra thảm kịch. Ví dụ : mẹ gà con vịt- mẹ “nuôi mướn” lại đòi quyền làm mẹ thật đang khi mẹ thật lại mất đi cái khổ đồng thời cũng là cái hạnh phúc “mang nặng đẻ đau”. Càng không thể chấp nhận được khi dùng các phôi người vào việc thí nghiệm khoa học, vào việc chọn giống người ưu việt, kèm theo hủy diệt những phôi yếu kém .
Không thể chấp nhận, vì tất cả những gì liên hệ đến người mẹ cung cấp noãn, đến người cung cấp tinh trùng, đến đứa con, đến phụ nữ cho thuê tử cung, đều vô luân, vi phạm đến phẩm giá làm người. Càng vi phạm đến phẩm giá làm vợ chồng, cha mẹ, con cái. Bào thai, con người tí hon khi đó giống như một chất liệu của phòng thí nghiệm, có thể mua bán, có thể sử dụng tùy tiện. “Cha” , “Mẹ” bé cũng chẳng tha thiết vì lẽ tinh trùng hay noãn có thể không thuộc về hai vợ chồng; đứa con lúc đó không thể coi là con của họ theo đầy đủ ý nghĩa. Thậm chí đứa bé sinh ra có thể là đứa con ngoại tình gián tiếp do noãn hay tinh trùng được cung cấp bởi tình nhân.
Cũng phải thêm rằng việc sử dụng  tinh trùng hay noãn của những người vô danh thì nếu những đứa bé chào đời đều được thụ tinh bởi một người “cha’ hay cùng một ‘mẹ” thì khi lớn lên mấy đứa đó tình cờ gặp gỡ, kết duyên vợ chồng sẽ phạm tội loạn luân mà không biết. Và điều này theo khoa học, có thể gây dị tật cho con cháu về sau. Đối với các bà mang thai dùm, có thể là người dưng nước lã (cho thuê tử cung), có thể là người thân như mẹ, chị em ruột, cô dì , thì có thể đoán ra mối liên hệ xã hội và tâm lý bấy giờ sẽ phức tạp biết bao, đặc biệt là khi người mang thai dùm lại là mẹ ruột của bà “mẹ” cho noãn !
Tuy nhiên, mong muốn có con là sự ước muốn chính đáng của vợ chồng. Vì đứa con là biếu hiện, là  thành quả của tình yêu thắm thiết giữa hai người. Song đôi khi họ không thể có con vì trục trặc cơ thể như ống dẫn trứng fallope bị tắc nghẽn mà không thể xử lý bằng giải phấu, thì sự can thiệp y học để giúp đôi vợ chồng có con, không bằng giao hợp âu yếm, song bằng một cách thế nào đó cho đôi bạn vẫn bảo toàn được tình yêu cho vợ chồng lẫn đứa con sẽ sinh ra, thì hành vi đó còn được coi là hợp luân lý. Cha Th.Rey Memet thuật lại : “ Ngày 25-7-1978, bé Louise Joy Brown đã ra đời tại Oldham, Anh quốc. Em là đứa trẻ đầu tiên trong lịch sử được cưu mang ngoài dạ mẹ em. Đức Hồng Y Albino Luciani, vị Giáo hoàng Gioan Phaolô I tương lai, đã gởi điện chúc mừng hai cha mẹ may mắn này mà sự hiếm hoi đã làm họ đau khổ bấy lâu nay.”
Gm. Nguyễn Bình Tĩnh
Giáo phận Đà nẳng

22 thg 6, 2013

Gia đình đặt nền tảng trên sự lựa chọn tự do của hai vợ chồng muốn kết hợp với nhau trong hôn nhân, đồng thời trên sự tôn trọng ý nghĩa và các giá trị của định chế này, một định chế không tuỳ thuộc con người mà tuỳ thuộc chính Thiên Chúa[1]Chính vì thế, những nét đặc thù của hôn nhân Kitô giáo là: toàn vẹnhợp nhất, bất khả phân lytrung tín và nhắm tới việc sinh sản con cái.[2] Cũng như ý nghĩa đích thực của hôn nhân phải là một phản ánh của tình yêu tuyệt đối giữa Ba Ngôi Thiên Chúa được bày tỏ cho chúng ta qua tình yêu của Đức Giêsu Kitô dành cho Hội Thánh. Thế nhưng, trong khoảng hơn 10 năm trở lại đây, hiện tượng “sống thử” trước khi tiến tới hôn nhân đã xuất hiện phổ biến trong đời sống của những đôi bạn trẻ Công giáo. Đó là một thực trạng sai trái rất đáng buồn, bởi nó đã đi sai giáo huấn của Lời Chúa và của Giáo Hội, làm méo mó mục đích, ý nghĩa và giá trị thánh thiêng của khế ước hôn nhân Công giáo, làm băng hoại các giá trị đạo đức truyền thống, đánh đổ các giá trị luân lý.
Hướng tới một tương lai tươi sáng và đẹp đẽ cho các bạn trẻ, cho các gia đình, cho xã hội và cho Giáo Hội, tôi luôn thao thức và trăn trở về vấn nạn này. Do đó, trong khao khát hướng tới lý tưởng là một linh mục của mình, tôi muốn chia sẻ một chút  nhận định về điều đó, nhằm có thể hoạch định cho mình những phương hướng mục vụ, hầu có thể giúp cho những người mà mình được sai đến để phục vụ sau này. Đặc biệt, tôi mong muốn làm sao để có thể giúp cho giới trẻ tránh xa được những hành động sai trái, tội lỗi đó và để cho họ nhận thức được rõ ràng hơn về hôn nhân, gia đình, để họ có được một cuộc sống lành mạnh và hạnh phúc thật sự theo đúng chương trình tình yêu của Chúa và đường lối Giáo Hội giảng dạy.
Trước thực trạng “sống thử” của các bạn trẻ trong xã hội nói chung và các bạn trẻ Kitô giáo nói riêng, chúng ta phải nhìn nhận đó không đơn thuần là lỗi và là trách nhiệm riêng thuộc về bản thân các bạn trẻ, nhưng đó còn là lỗi và trách nhiệm của nhiều người liên quan. Thực trạng này chủ yếu xảy ra ở những vùng đô thị, ở các khu kinh tế, trường đại học, còn ở các xứ đạo miền quê thì hầu như không có. Nó chịu tác động của nhiều nguyên nhân trên khía cạnh chủ quan cũng như khách quan. Một số các bạn trẻ ngày nay muốn xem việc sống thử như là một cách “chuẩn bị” tốt cho một cuộc sống hôn nhân hoàn hảo hạnh phúc, đó là một sai lầm to lớn. Bởi lẽ đời sống hôn nhân và tình dục không thể bị giản lược thành việc “thí nghiệm”, và không thể chỉ dừng lại ở những sinh hoạt thể lý, nhưng còn là dấu chỉ thuần thiêng, là dấu chỉ của tình yêu và sự hiệp nhất. Bên cạnh đó, nhiều bạn trẻ “sống thử” chỉ vì mục đích thỏa mãn tình dục của mình. Nó sẽ là những vết hằn suốt đời, để lại những hậu quả tai hại cho cuộc sống hiện tại và tương lai của giới trẻ. Vấn nạn này không phải là không có phương pháp giải quyết để ngăn ngừa và chấm dứt. Thiết nghĩ điều quan trọng nhất là những người có liên quan tới đời sống hiện tại hay tương lai của các bạn trẻ, như gia đình, xã hội và Giáo Hội, có thật sự đặt vấn nạn này làm mối bận tâm và đáng suy nghĩ của mình, có nhận thấy trách nhiệm của mình trong vấn nạn này hay không? Nếu tất cả mọi người cùng chung một suy nghĩ, cùng chung một trái tim biết thao thức để cùng nhau hành động, thì tình trạng “sống thử” nơi các bạn trẻ, đặc biệt là các bạn trẻ Công giáo sẽ dễ dàng được thay thế bởi một lối sống, một tình yêu lành mạnh, trong sáng và cao đẹp hơn.
Lấy giáo lý của Kitô giáo làm điểm soi chiếu, dựa trên nhãn quan và lập trường của Giáo Hội Công Giáo, chúng ta dám khẳng định rằng tình trạng “sống thử” nơi các bạn trẻ Công giáo, cũng như ngoài xã hội là một hành động sai trái, đáng lên án và cần phải kịp thời đưa ra những giải pháp để sửa chữa. Trước hết, “sống thử” trước hôn nhân là điều sai trái, đi ngược lại với những điều răn của Chúa và của Giáo Hội dạy. Việc hai người nam nữ sống chung với nhau và sinh hoạt với nhau trên tinh thần và thể xác (đặc biệt là sinh hoạt tình dục), là phạm vi đời sống của những đôi vợ chồng đã được Giáo Hội và xã hội chấp nhận, có nghĩa là họ đã tiến tới hôn nhân và gia đình. Còn nếu chưa là vợ chồng hợp pháp theo nghi thức và luật pháp của Giáo Hội và xã hội thì việc sống chung với nhau là hoàn toàn sai trái, vi phạm pháp luật xã hội cũng như giáo luật. Mặt khác, việc “sống thử” trước hôn nhân còn đi ngược lại với mục đích, ý nghĩa, giá trị của hôn nhân Kitô giáo. Đối với người Kitô hữu, việc sống chung với nhau của hai người nam nữ là một giai đoạn mang tính tất yếu, để họ làm trọn bổn phận và quyền lợi đối với mục đích, ý nghĩa, giá trị của hôn nhân Kitô giáo. Qua việc kết hợp giữa người nam và người nữ quan bí tích Hôn Phối, hai người trở thành vợ chồng; tình yêu trao ban cho nhau  xuất phát từ Thiên Chúa là nguồn tình yêu (1Ga 4,8). Họ trao ban sự sống cho nhau, đó là một sự trao hiến trọn vẹn, bao gồm thể xác và tinh thần. Qua đời sống hôn nhân, hai người đã tiến tới sự hiệp thông với nhau cách trọn vẹn. Sự hiệp thông trọn vẹn này dựa trên khuôn mẫu hiệp thông giữa Ba Ngôi Thiên Chúa, và là dấu chỉ hiệp thông và tình yêu giữa Chúa Kitô và Hội Thánh. Sự hiệp thông này phải mở ngỏ cho những sự sống, mầm sống mới, tức là sinh sản con cái. Đó là trách nhiệm và là vinh dự cho con người, vì được cộng tác với Thiên Chúa trong công trình sáng tạo và trao ban sự sống. Điều này khẳng định, việc các bạn trẻ “sống thử” chỉ vì hướng tới mục đích nhục dục là hoàn toàn đi ngược lại với giá trị cao cả của hôn nhân.
Bên cạnh đó, việc “sống thử” vì mục đích thỏa mãn tính dục nơi các bạn trẻ còn làm mất ý nghĩa và giá trị của tính dục nơi thân xác con người. Tính dục của con người mang dấu chỉ tình yêu sáng tạo của Thiên Chúa và thân xác con người là ngôn ngữ của sự thông hiệp sâu xa giữa người với người và giữa con người với Thiên Chúa. Nó không phải là một phương tiện cho sự thỏa mãn tình dục.
Việc “sống thử” nơi các bạn trẻ còn đi ngược lại với các giá trị của truyền thống đạo đức, luân lý và văn hóa. Còn chăng giá trị của nhân, nghĩa, lễ, trí, tín trong những sự thỏa mãn nhục dục? Bản chất của điều đó là một sự trụi lạc, nó sẽ để lại những hậu quả ghê gớm cho tương lai của các bạn, đặc biệt là các bạn nữ. Nếu không đi đến hôn nhân thì việc “sống thử”, với những “cơ cấu” kèm theo của nó sẽ để lại những vết thẹo nhơ nhuốc, một tâm lý tự ti về thân xác bản thân nơi các bạn nữ. Hơn nữa, vì chưa có hôn nhân, gia đình, chưa được mọi người công nhận, nên việc sống thử sẽ mở ra cơ hội cho các bạn phạm những tội ác bởi hậu quả của nó, và phá thai là một ví dụ điển hình. Đó cũng chính là lý do đã khiến Việt Nam, vốn là một quê hương, một miền đất đầy những giá trị của thuần phong mỹ tục, lại trở thành một trong những quốc gia có tỷ lệ nạo phá thai (là một hình thức của tội ác giết người) đứng đầu thế giới.
Nguyên nhân dẫn đưa các bạn trẻ Công giáo đến với tình trạng tội lỗi, sai trái  này trước hết là chính những yếu điểm tồn tại ngay trên bản thân của các bạn trẻ. Đó là sự yếu kém về giáo lý, sự thiếu hiểu biết về giá trị cao cả của tính dục và thân xác con người, vốn là hình ảnh của Thiên Chúa. Việc xa rời các thực hành đạo đức (Thánh Lễ, giờ kinh, các sinh hoạt tôn giáo…), làm cho tâm hồn người trẻ khô khan, nguội lạnh, dẫn tới những tư tưởng và hành động tội lỗi. Cuộc sống thiếu thốn tình cảm (gia đình, quê hương, xứ, họ…), cùng với điều kiện sống tập trung, dễ gặp gỡ; môi trường có nhiều yếu tố dung tục (sách vở, báo chí, internet, phim ảnh…); xã hội tự do tình dục, mãi dâm phổ biến, sự lơi lỏng trong việc quản lý xã hội; cùng với trào lưu dễ dãi trong quan hệ tình dục của giới trẻ ngày nay… tất cả như tạo thêm “sức mạnh” cho các bạn trẻ trở thành những “con thiêu thân” lao vào con đường hưởng thụ. Bên cạnh đó, sự thiếu trách nhiệm của những người liên quan cũng góp phần làm cho các bạn trẻ liều mình “sống thử” dù biết là sai. Sự thiếu quan tâm của gia đình, của giáo xứ hay giáo họ làm cho các bạn trẻ làm ăn xa cảm thấy thiếu thồn về tình cảm, cảm thấy được thoát khỏi ràng buộc gia đình nên tự do hành động để bù trừ.
Trong khao khát và dự định hướng về một người Mục Tử, tôi muốn hoạch định cho mình một vài phương hướng mục vụ cho giới trẻ. Trước hết, tôi sẽ phải tìm đến với các bạn trẻ và sẵn sàng đón nhận họ với tất cả thái độ và tình cảm của một người bạn thân, một người anh yêu thương, một người thầy khôn ngoan, một người cha nhân hậu và là một mục tử nhân lành. Những rung động của đức ái mục vụ tôi cần biết thể hiện trong mọi tư tưởng, lời nói và những việc làm mỗi khi đến với các bạn. Tôi cũng phải biết tôn trọng để nắm bắt những thao thức, những sẻ chia của các bạn để có thể cảm thông, đồng hành và tạo niềm tin, niềm an ủi nơi các bạn. Tôi sẽ có những buổi gặp gỡ, nói chuyện để truyền đạt, giáo dục giới trẻ về giáo lý, Lời Chúa, về ý nghĩa của tình yêu, của hôn nhân và gia đình, về tính dục, luân lý, về hậu quả và tác hại của “sống thử”. Mục đích là nhắm tới việc trang bị cho các bạn những hiểu biết cần thiết cho đời sống đức tin, đời sống xã hội, gia đình và đời sống tâm sinh lý của mỗi người. Tiếp đến, là bản thân tôi cần có sự quan tâm cụ thể trong vai trò là một người Mục tử quan tâm và yêu thương đoàn chiên, mà cụ thể là các bạn trẻ và các gia đình: quan tâm đến đời sống đạo và đời, đến các nhu cầu, sự thiếu thốn và hoạt cảnh gia đình của họ… để mong giúp đỡ và hướng dẫn các bạn tránh những tư tưởng hay hành động sai lầm nhất là những lúc các bạn gặp khó khăn trong cuộc sống. Ngoài ra, tôi còn nên tổ chức những phong trào vui chơi lành mạnh: giao lưu thể thao, văn nghệ, cắm trại, thi đua các phong trào… trong giáo xứ, giáo họ, các tổ liên gia… để thu hút các bạn trẻ đến với đời sống cộng đoàn, giúp các bạn có được hướng giải quyết những đòi hỏi xung năng tính dục của lứa tuổi cách lành mạnh. Đối với những bạn trẻ đi làm ăn xa nới các trung tâm kinh tế, ở nước ngoài hay ở các trường đại học, tôi cần biết chủ trương thành lập các hội đoàn đồng hương, các nhóm bạn. Làm sao để các bạn có những buổi gặp gỡ, sinh hoạt chung, nhằm duy trì đời sống đạo, kiểm soát nhau và giúp đỡ nhau trong cuộc sống xa gia đình và quê hương.
Công trình tạo dựng vì tình yêu, và chỉ vì tình yêu của Thiên Chúa vẫn còn được thực hiện và luôn hướng tới hạnh phúc của con người. Trong đời sống hôn nhân và gia đình, con người được mời gọi để cộng tác với Thiên Chúa. “Sống thử” là một hướng đi lệch lạc của các bạn trẻ, đã ra ngoài con đường của Thiên Chúa. Điều đó sẽ đưa các ban và các gia đình tới vực sâu của đau khổ và tội lỗi. Do đó, ngay từ bây giờ, bản thân người trẻ và những ai liên quan, hãy đặc biệt lưu tâm đến vấn đề này để tìm ra lối thoát cho những bạn đã và đang sống trong tình trạng này, cũng như ngăn ngừa những bạn trẻ đang có tư tưởng hay ý định đó. Có như vậy, mục đích, ý nghĩa và giá trị của tình yêu, của hôn nhân gia đình mới được lên tiếng và đó mới là hạnh phúc đích thật theo chương trình ngàn đời của Thiên Chúa. Tôi thiết nghĩ, chút thao thức mà tôi chia sẻ ở đây sẽ không bao giờ là đủ đối với vấn đề gay go này. Nó sẽ lạnh lẽo khi nó cô độc một mình, nhưng nó sẽ ấm áp hơn nếu chúng ta cùng thao thức để cùng hành động vì và chỉ vì tình yêu./.
Giuse Lê Ngọc Dương, K.12 – ĐCV Vinh Thanh


Nguồn: Lamhong.org

CHÚT THAO THỨC KHI GIỚI TRẺ CÔNG GIÁO “SỐNG THỬ”

Gia đình đặt nền tảng trên sự lựa chọn tự do của hai vợ chồng muốn kết hợp với nhau trong hôn nhân, đồng thời trên sự tôn trọng ý nghĩa và các giá trị của định chế này, một định chế không tuỳ thuộc con người mà tuỳ thuộc chính Thiên Chúa[1]Chính vì thế, những nét đặc thù của hôn nhân Kitô giáo là: toàn vẹnhợp nhất, bất khả phân lytrung tín và nhắm tới việc sinh sản con cái.[2] Cũng như ý nghĩa đích thực của hôn nhân phải là một phản ánh của tình yêu tuyệt đối giữa Ba Ngôi Thiên Chúa được bày tỏ cho chúng ta qua tình yêu của Đức Giêsu Kitô dành cho Hội Thánh. Thế nhưng, trong khoảng hơn 10 năm trở lại đây, hiện tượng “sống thử” trước khi tiến tới hôn nhân đã xuất hiện phổ biến trong đời sống của những đôi bạn trẻ Công giáo. Đó là một thực trạng sai trái rất đáng buồn, bởi nó đã đi sai giáo huấn của Lời Chúa và của Giáo Hội, làm méo mó mục đích, ý nghĩa và giá trị thánh thiêng của khế ước hôn nhân Công giáo, làm băng hoại các giá trị đạo đức truyền thống, đánh đổ các giá trị luân lý.
Hướng tới một tương lai tươi sáng và đẹp đẽ cho các bạn trẻ, cho các gia đình, cho xã hội và cho Giáo Hội, tôi luôn thao thức và trăn trở về vấn nạn này. Do đó, trong khao khát hướng tới lý tưởng là một linh mục của mình, tôi muốn chia sẻ một chút  nhận định về điều đó, nhằm có thể hoạch định cho mình những phương hướng mục vụ, hầu có thể giúp cho những người mà mình được sai đến để phục vụ sau này. Đặc biệt, tôi mong muốn làm sao để có thể giúp cho giới trẻ tránh xa được những hành động sai trái, tội lỗi đó và để cho họ nhận thức được rõ ràng hơn về hôn nhân, gia đình, để họ có được một cuộc sống lành mạnh và hạnh phúc thật sự theo đúng chương trình tình yêu của Chúa và đường lối Giáo Hội giảng dạy.
Trước thực trạng “sống thử” của các bạn trẻ trong xã hội nói chung và các bạn trẻ Kitô giáo nói riêng, chúng ta phải nhìn nhận đó không đơn thuần là lỗi và là trách nhiệm riêng thuộc về bản thân các bạn trẻ, nhưng đó còn là lỗi và trách nhiệm của nhiều người liên quan. Thực trạng này chủ yếu xảy ra ở những vùng đô thị, ở các khu kinh tế, trường đại học, còn ở các xứ đạo miền quê thì hầu như không có. Nó chịu tác động của nhiều nguyên nhân trên khía cạnh chủ quan cũng như khách quan. Một số các bạn trẻ ngày nay muốn xem việc sống thử như là một cách “chuẩn bị” tốt cho một cuộc sống hôn nhân hoàn hảo hạnh phúc, đó là một sai lầm to lớn. Bởi lẽ đời sống hôn nhân và tình dục không thể bị giản lược thành việc “thí nghiệm”, và không thể chỉ dừng lại ở những sinh hoạt thể lý, nhưng còn là dấu chỉ thuần thiêng, là dấu chỉ của tình yêu và sự hiệp nhất. Bên cạnh đó, nhiều bạn trẻ “sống thử” chỉ vì mục đích thỏa mãn tình dục của mình. Nó sẽ là những vết hằn suốt đời, để lại những hậu quả tai hại cho cuộc sống hiện tại và tương lai của giới trẻ. Vấn nạn này không phải là không có phương pháp giải quyết để ngăn ngừa và chấm dứt. Thiết nghĩ điều quan trọng nhất là những người có liên quan tới đời sống hiện tại hay tương lai của các bạn trẻ, như gia đình, xã hội và Giáo Hội, có thật sự đặt vấn nạn này làm mối bận tâm và đáng suy nghĩ của mình, có nhận thấy trách nhiệm của mình trong vấn nạn này hay không? Nếu tất cả mọi người cùng chung một suy nghĩ, cùng chung một trái tim biết thao thức để cùng nhau hành động, thì tình trạng “sống thử” nơi các bạn trẻ, đặc biệt là các bạn trẻ Công giáo sẽ dễ dàng được thay thế bởi một lối sống, một tình yêu lành mạnh, trong sáng và cao đẹp hơn.
Lấy giáo lý của Kitô giáo làm điểm soi chiếu, dựa trên nhãn quan và lập trường của Giáo Hội Công Giáo, chúng ta dám khẳng định rằng tình trạng “sống thử” nơi các bạn trẻ Công giáo, cũng như ngoài xã hội là một hành động sai trái, đáng lên án và cần phải kịp thời đưa ra những giải pháp để sửa chữa. Trước hết, “sống thử” trước hôn nhân là điều sai trái, đi ngược lại với những điều răn của Chúa và của Giáo Hội dạy. Việc hai người nam nữ sống chung với nhau và sinh hoạt với nhau trên tinh thần và thể xác (đặc biệt là sinh hoạt tình dục), là phạm vi đời sống của những đôi vợ chồng đã được Giáo Hội và xã hội chấp nhận, có nghĩa là họ đã tiến tới hôn nhân và gia đình. Còn nếu chưa là vợ chồng hợp pháp theo nghi thức và luật pháp của Giáo Hội và xã hội thì việc sống chung với nhau là hoàn toàn sai trái, vi phạm pháp luật xã hội cũng như giáo luật. Mặt khác, việc “sống thử” trước hôn nhân còn đi ngược lại với mục đích, ý nghĩa, giá trị của hôn nhân Kitô giáo. Đối với người Kitô hữu, việc sống chung với nhau của hai người nam nữ là một giai đoạn mang tính tất yếu, để họ làm trọn bổn phận và quyền lợi đối với mục đích, ý nghĩa, giá trị của hôn nhân Kitô giáo. Qua việc kết hợp giữa người nam và người nữ quan bí tích Hôn Phối, hai người trở thành vợ chồng; tình yêu trao ban cho nhau  xuất phát từ Thiên Chúa là nguồn tình yêu (1Ga 4,8). Họ trao ban sự sống cho nhau, đó là một sự trao hiến trọn vẹn, bao gồm thể xác và tinh thần. Qua đời sống hôn nhân, hai người đã tiến tới sự hiệp thông với nhau cách trọn vẹn. Sự hiệp thông trọn vẹn này dựa trên khuôn mẫu hiệp thông giữa Ba Ngôi Thiên Chúa, và là dấu chỉ hiệp thông và tình yêu giữa Chúa Kitô và Hội Thánh. Sự hiệp thông này phải mở ngỏ cho những sự sống, mầm sống mới, tức là sinh sản con cái. Đó là trách nhiệm và là vinh dự cho con người, vì được cộng tác với Thiên Chúa trong công trình sáng tạo và trao ban sự sống. Điều này khẳng định, việc các bạn trẻ “sống thử” chỉ vì hướng tới mục đích nhục dục là hoàn toàn đi ngược lại với giá trị cao cả của hôn nhân.
Bên cạnh đó, việc “sống thử” vì mục đích thỏa mãn tính dục nơi các bạn trẻ còn làm mất ý nghĩa và giá trị của tính dục nơi thân xác con người. Tính dục của con người mang dấu chỉ tình yêu sáng tạo của Thiên Chúa và thân xác con người là ngôn ngữ của sự thông hiệp sâu xa giữa người với người và giữa con người với Thiên Chúa. Nó không phải là một phương tiện cho sự thỏa mãn tình dục.
Việc “sống thử” nơi các bạn trẻ còn đi ngược lại với các giá trị của truyền thống đạo đức, luân lý và văn hóa. Còn chăng giá trị của nhân, nghĩa, lễ, trí, tín trong những sự thỏa mãn nhục dục? Bản chất của điều đó là một sự trụi lạc, nó sẽ để lại những hậu quả ghê gớm cho tương lai của các bạn, đặc biệt là các bạn nữ. Nếu không đi đến hôn nhân thì việc “sống thử”, với những “cơ cấu” kèm theo của nó sẽ để lại những vết thẹo nhơ nhuốc, một tâm lý tự ti về thân xác bản thân nơi các bạn nữ. Hơn nữa, vì chưa có hôn nhân, gia đình, chưa được mọi người công nhận, nên việc sống thử sẽ mở ra cơ hội cho các bạn phạm những tội ác bởi hậu quả của nó, và phá thai là một ví dụ điển hình. Đó cũng chính là lý do đã khiến Việt Nam, vốn là một quê hương, một miền đất đầy những giá trị của thuần phong mỹ tục, lại trở thành một trong những quốc gia có tỷ lệ nạo phá thai (là một hình thức của tội ác giết người) đứng đầu thế giới.
Nguyên nhân dẫn đưa các bạn trẻ Công giáo đến với tình trạng tội lỗi, sai trái  này trước hết là chính những yếu điểm tồn tại ngay trên bản thân của các bạn trẻ. Đó là sự yếu kém về giáo lý, sự thiếu hiểu biết về giá trị cao cả của tính dục và thân xác con người, vốn là hình ảnh của Thiên Chúa. Việc xa rời các thực hành đạo đức (Thánh Lễ, giờ kinh, các sinh hoạt tôn giáo…), làm cho tâm hồn người trẻ khô khan, nguội lạnh, dẫn tới những tư tưởng và hành động tội lỗi. Cuộc sống thiếu thốn tình cảm (gia đình, quê hương, xứ, họ…), cùng với điều kiện sống tập trung, dễ gặp gỡ; môi trường có nhiều yếu tố dung tục (sách vở, báo chí, internet, phim ảnh…); xã hội tự do tình dục, mãi dâm phổ biến, sự lơi lỏng trong việc quản lý xã hội; cùng với trào lưu dễ dãi trong quan hệ tình dục của giới trẻ ngày nay… tất cả như tạo thêm “sức mạnh” cho các bạn trẻ trở thành những “con thiêu thân” lao vào con đường hưởng thụ. Bên cạnh đó, sự thiếu trách nhiệm của những người liên quan cũng góp phần làm cho các bạn trẻ liều mình “sống thử” dù biết là sai. Sự thiếu quan tâm của gia đình, của giáo xứ hay giáo họ làm cho các bạn trẻ làm ăn xa cảm thấy thiếu thồn về tình cảm, cảm thấy được thoát khỏi ràng buộc gia đình nên tự do hành động để bù trừ.
Trong khao khát và dự định hướng về một người Mục Tử, tôi muốn hoạch định cho mình một vài phương hướng mục vụ cho giới trẻ. Trước hết, tôi sẽ phải tìm đến với các bạn trẻ và sẵn sàng đón nhận họ với tất cả thái độ và tình cảm của một người bạn thân, một người anh yêu thương, một người thầy khôn ngoan, một người cha nhân hậu và là một mục tử nhân lành. Những rung động của đức ái mục vụ tôi cần biết thể hiện trong mọi tư tưởng, lời nói và những việc làm mỗi khi đến với các bạn. Tôi cũng phải biết tôn trọng để nắm bắt những thao thức, những sẻ chia của các bạn để có thể cảm thông, đồng hành và tạo niềm tin, niềm an ủi nơi các bạn. Tôi sẽ có những buổi gặp gỡ, nói chuyện để truyền đạt, giáo dục giới trẻ về giáo lý, Lời Chúa, về ý nghĩa của tình yêu, của hôn nhân và gia đình, về tính dục, luân lý, về hậu quả và tác hại của “sống thử”. Mục đích là nhắm tới việc trang bị cho các bạn những hiểu biết cần thiết cho đời sống đức tin, đời sống xã hội, gia đình và đời sống tâm sinh lý của mỗi người. Tiếp đến, là bản thân tôi cần có sự quan tâm cụ thể trong vai trò là một người Mục tử quan tâm và yêu thương đoàn chiên, mà cụ thể là các bạn trẻ và các gia đình: quan tâm đến đời sống đạo và đời, đến các nhu cầu, sự thiếu thốn và hoạt cảnh gia đình của họ… để mong giúp đỡ và hướng dẫn các bạn tránh những tư tưởng hay hành động sai lầm nhất là những lúc các bạn gặp khó khăn trong cuộc sống. Ngoài ra, tôi còn nên tổ chức những phong trào vui chơi lành mạnh: giao lưu thể thao, văn nghệ, cắm trại, thi đua các phong trào… trong giáo xứ, giáo họ, các tổ liên gia… để thu hút các bạn trẻ đến với đời sống cộng đoàn, giúp các bạn có được hướng giải quyết những đòi hỏi xung năng tính dục của lứa tuổi cách lành mạnh. Đối với những bạn trẻ đi làm ăn xa nới các trung tâm kinh tế, ở nước ngoài hay ở các trường đại học, tôi cần biết chủ trương thành lập các hội đoàn đồng hương, các nhóm bạn. Làm sao để các bạn có những buổi gặp gỡ, sinh hoạt chung, nhằm duy trì đời sống đạo, kiểm soát nhau và giúp đỡ nhau trong cuộc sống xa gia đình và quê hương.
Công trình tạo dựng vì tình yêu, và chỉ vì tình yêu của Thiên Chúa vẫn còn được thực hiện và luôn hướng tới hạnh phúc của con người. Trong đời sống hôn nhân và gia đình, con người được mời gọi để cộng tác với Thiên Chúa. “Sống thử” là một hướng đi lệch lạc của các bạn trẻ, đã ra ngoài con đường của Thiên Chúa. Điều đó sẽ đưa các ban và các gia đình tới vực sâu của đau khổ và tội lỗi. Do đó, ngay từ bây giờ, bản thân người trẻ và những ai liên quan, hãy đặc biệt lưu tâm đến vấn đề này để tìm ra lối thoát cho những bạn đã và đang sống trong tình trạng này, cũng như ngăn ngừa những bạn trẻ đang có tư tưởng hay ý định đó. Có như vậy, mục đích, ý nghĩa và giá trị của tình yêu, của hôn nhân gia đình mới được lên tiếng và đó mới là hạnh phúc đích thật theo chương trình ngàn đời của Thiên Chúa. Tôi thiết nghĩ, chút thao thức mà tôi chia sẻ ở đây sẽ không bao giờ là đủ đối với vấn đề gay go này. Nó sẽ lạnh lẽo khi nó cô độc một mình, nhưng nó sẽ ấm áp hơn nếu chúng ta cùng thao thức để cùng hành động vì và chỉ vì tình yêu./.
Giuse Lê Ngọc Dương, K.12 – ĐCV Vinh Thanh


Nguồn: Lamhong.org
SỐNG CAO ĐẸP, CHẾT HÀO HÙNG


Lễ sinh nhật Gioan Tẩy Giả

Giáo Hội thường mừng lễ các thánh vào ngày các ngài qua đời. Đó là ngày các ngài được về với Thiên Chúa Tình Yêu, ngày sinh nhật trên thiên quốc.
Đối với thánh Gioan Tẩy Giả, Giáo hội mừng kính cả ngày ngài sinh ra và cả ngày ngài tử đạo. Ngày qua đời mừng ở bậc lễ nhớ. Ngày sinh nhật với bậc lễ trọng.
Trong năm phụng vụ chỉ có 3 lễ mừng sinh nhật. Đó là Giáng Sinh của Đức Giêsu (25.12). Sinh nhật của Đức Maria (8.9) và Sinh nhật của Gioan Tẩy Giả (24.6). Như vậy trong hàng ngũ các thánh, chỉ có thánh Gioan được vinh dự lớn nhất là được mừng ngày chào đời của mình. Cuộc đời và sứ mạng của Gioan gắn liền với cuộc đời và sứ mạng của Chúa Giêsu nên Giáo hội có lý do để sắp đặt lễ mừng Sinh nhật Vị Tiền Hô của Đấng Cứu Thế trở thành một Lễ Trọng trong niên lịch phụng vụ.
Gioan được sinh ra kỳ diệu và ơn gọi cũng kỳ diệu trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa.
Gioan ra đời là niềm hạnh phúc cho cha mẹ, người thân và láng giềng. Một niềm vui quá lớn vì ông bà son sẻ. Mọi người đến chúc mừng người mẹ sinh con lúc tuổi già mà được “mẹ tròn con vuông”. Ai cũng trầm trồ khen bé trai thật dễ thương thật đáng yêu. Ai cũng mỉm cười với bé, đặt nhiều hy vọng vào bé: “Đứa trẻ này rồi ra sẽ thế nào đây? Và quả thật, có bàn tay Chúa phù hộ em”.
Ông Bà Giacaria mong chờ con trai nối dõi tông đường và sẽ như cha, làm tư tế. Gioan có đủ điều kiện để tiến thân, giàu có, vinh dự thuộc giai cấp thượng lưu. Nhưng Gioan lại nghe tiếng gọi từ trời cao đi làm Ngôn sứ. Gioan vào hoang địa sống một mình. Cuộc sống khắc khổ, đơn sơ, nghèo nàn.
Từ đó, Gioan trở thành Ngôn sứ với đời sống cao đẹp và đã chết hào hùng.
1. Cuộc sống cao đẹp
Gioan sống đẹp trong cương vị sứ giả: “Được đầy thần khí và quyền năng của ngôn sứ Êlia, em sẽ đi trước mặt Chúa, để làm cho lòng cha ông quay về với con cháu, để làm cho tâm tư kẻ ngỗ nghịch lại hướng về nẻo chính đường ngay, và chuẩn bị một dân sẵn sàng đón Chúa” (Lc 1,17), và là người tiên phong: “Hài Nhi hỡi, con sẽ mang tước hiệu là ngôn sứ của Đấng Tối Cao: con sẽ đi trước Chúa, mở lối cho Người” (Lc 1,76).
Sống đẹp vì Gioan đã từ bỏ đời sống giàu sang uy thế của gia đình, đi vào trong sa mạc hoang vắng sống gắn bó với Thiên Chúa, lắng nghe và thực hiện thánh ý Ngài.
Sống đẹp vì Gioan có một số môn đệ, nhưng khi Chúa Giêsu đến, Gioan đã giới thiệu cho họ (Ga 1, 36) để họ trở thành môn đệ Chúa Giêsu.
Sống đẹp vì Gioan đã thu phục được đám đông, được dân chúng ngưỡng mộ, nhưng Gioan chỉ cho họ biết có Đấng cao cả hơn đang đến, Đấng mà Gioan không đáng cúi xuống cởi quai dép cho Ngài (Ga 1, 27).
Gioan sống đẹp vì đã luôn tâm niệm rằng: “Chúa Giêsu phải nổi bật lên, còn tôi phải lu mờ đi”(Ga 3, 30).
2. Cái chết hào hùng
Cái chết của Gioan đau thương mà rất hào hùng.
Là một ngôn sứ trong một đất nước đang thời nhiễu nhương,bị đế quốc Roma cai trị hà khắc, nhiều phe nhóm trong dân nổi loạn,dân chúng lầm than,Gioan cũng mang nặng những ưu tư những trăn trở yêu nước thương dân.
Vị vua Hêrôđê, một hôn quân bạo chúa, sống loạn luân, lấy vợ của anh mình là Hêrôđiađê. Lương tâm ngôn sứ đã thúc đẩy Gioan lên tiếng can ngăn và tố cáo những hành vi sai trái của nhà vua,kêu gọi vua trở về nẻo chính đường ngay.Vì thế Gioan đã bị vua chém đầu. Người theo Ðạo Hồi giáo Islam rất sùng kính Thánh Gioan ở giáo đường bên Syria. Theo tương truyền, trong ngôi đền thờ Hồi giáo Omajjden có phần mộ chôn đầu của Gioan. Người Hồi giáo Syria gọi ngài bằng tên Yaya Ben Zakariyah. Năm 2001, Đức Chân Phước Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã đến hành hương kính viếng cầu nguyện trước ngôi mộ Thánh nhân tại ngôi đền thờ này với những người Hồi giáo tại đó.
Trước mặt người đời, Gioan là kẻ thất bại. Sứ mạng của ông không hoàn thành,bị những kẻ gian ác ghen ghét hãm hại, cuối cùng chịu chết chém trong tù.Thế nhưng Chúa Giêsu đã nói về ông: “ Trong các con cái người nữ sinh ra,chưa từng một ai cao trọng hơn Gioan Tẩy giả”(Lc 7,28). Như vậy điều quan trọng trước mặt Thiên Chúa chẳng phải là danh giá hay thành tích mà là thái độ sống.Thái độ sống của Gioan là bất khuất trước bạo lực, dám nói sự thật bảo vệ công lý, cho dù sự thật đó dẫn đến tù đày và cái chết.Sứ mạng ngôn sứ thời nào cũng thế.Chúa Giêsu, vị ngôn sứ làm chứng cho sự thật cũng bị bắt bớ, bị hành hạ và bị đóng đinh thập giá. Các Thánh Tử Đạo cũng đã làm chứng cho sự thật, tiếp nối con đường Thầy mình đã đi,cũng gánh lấy tù tội và cái chết, bởi lẽ: “Nếu thế gian đã ghét Thầy,thì thế gian sẽ ghét các con vì các con sống giữa thế gian nhưng không thuộc về thế gian” (Ga 15,18 – 19).
3. Hồng ân ngày sinh nhật
Được sinh ra và lớn lên trong bàn tay phù hộ của Thiên Chúa, Gioan đã sống vai trò Ngôn sứ, dọn đường cho Chúa Cứu Thế và đã chết vì chân lý.
Mừng sinh nhật thánh Gioan Tẩy Giả, mỗi người nhớ đến ngày sinh nhật của mình. Ngày đó, cha mẹ, ông bà, thân bằng quyến thuộc mừng vui. Ai cũng cười tươi nhìn trẻ thơ, ai cũng muốn bồng ẵm chúc lành và đặt nhiều hy vọng nơi con trẻ. Rồi mỗi người được cha mẹ đặt tên, được đưa đến Nhà thờ để nhận phép thanh tẩy với một tên Thánh và trở nên con của Thiên Chúa.Mỗi lần mừng sinh nhật của mình, mỗi người nhớ đến bao nhiêu là hồng ân Thiên Chúa ban tặng để tạ ơn và sống xứng đáng hơn.
Ngày nay, nhiều gia đình có truyền thống kỷ niệm và mừng ngày sinh nhật của các thành viên trong gia đình. Đó là một việc làm thật ý nghĩa và nhiều niềm vui. Bởi vì, đã sinh ra trong đời, dù ở cảnh ngộ nào, ai cũng được Đấng Tạo Hóa ban tặng chức phận quý giá, đó là làm người. Qua mạc khải Kinh thánh và dưới ánh sáng đức tin, chúng ta biết rằng, con người được tạo dựng giống hình ảnh Thiên Chúa Tình Yêu. Như vậy, mỗi người trong nhân loại đều được mời gọi theo một hướng đi nhất định để hoàn tất một định mệnh tươi đẹp và một cuộc sống cao cả. 
Là Kitô hữu, chúng ta vui mừng tạ ơn và hy vọng về ơn gọi, định mệnh, hướng đi của mình.Thánh Gioan là một mẫu gương tuyệt vời, sống cao đẹp và chết hào hùng.
Lm Giuse Nguyễn Hữu An


Nguồn: Lamhong.org

Sống cao đẹp, chết hào hùng (Lễ sinh nhật thánh Gioan Tẩy Giả)

SỐNG CAO ĐẸP, CHẾT HÀO HÙNG


Lễ sinh nhật Gioan Tẩy Giả

Giáo Hội thường mừng lễ các thánh vào ngày các ngài qua đời. Đó là ngày các ngài được về với Thiên Chúa Tình Yêu, ngày sinh nhật trên thiên quốc.
Đối với thánh Gioan Tẩy Giả, Giáo hội mừng kính cả ngày ngài sinh ra và cả ngày ngài tử đạo. Ngày qua đời mừng ở bậc lễ nhớ. Ngày sinh nhật với bậc lễ trọng.
Trong năm phụng vụ chỉ có 3 lễ mừng sinh nhật. Đó là Giáng Sinh của Đức Giêsu (25.12). Sinh nhật của Đức Maria (8.9) và Sinh nhật của Gioan Tẩy Giả (24.6). Như vậy trong hàng ngũ các thánh, chỉ có thánh Gioan được vinh dự lớn nhất là được mừng ngày chào đời của mình. Cuộc đời và sứ mạng của Gioan gắn liền với cuộc đời và sứ mạng của Chúa Giêsu nên Giáo hội có lý do để sắp đặt lễ mừng Sinh nhật Vị Tiền Hô của Đấng Cứu Thế trở thành một Lễ Trọng trong niên lịch phụng vụ.
Gioan được sinh ra kỳ diệu và ơn gọi cũng kỳ diệu trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa.
Gioan ra đời là niềm hạnh phúc cho cha mẹ, người thân và láng giềng. Một niềm vui quá lớn vì ông bà son sẻ. Mọi người đến chúc mừng người mẹ sinh con lúc tuổi già mà được “mẹ tròn con vuông”. Ai cũng trầm trồ khen bé trai thật dễ thương thật đáng yêu. Ai cũng mỉm cười với bé, đặt nhiều hy vọng vào bé: “Đứa trẻ này rồi ra sẽ thế nào đây? Và quả thật, có bàn tay Chúa phù hộ em”.
Ông Bà Giacaria mong chờ con trai nối dõi tông đường và sẽ như cha, làm tư tế. Gioan có đủ điều kiện để tiến thân, giàu có, vinh dự thuộc giai cấp thượng lưu. Nhưng Gioan lại nghe tiếng gọi từ trời cao đi làm Ngôn sứ. Gioan vào hoang địa sống một mình. Cuộc sống khắc khổ, đơn sơ, nghèo nàn.
Từ đó, Gioan trở thành Ngôn sứ với đời sống cao đẹp và đã chết hào hùng.
1. Cuộc sống cao đẹp
Gioan sống đẹp trong cương vị sứ giả: “Được đầy thần khí và quyền năng của ngôn sứ Êlia, em sẽ đi trước mặt Chúa, để làm cho lòng cha ông quay về với con cháu, để làm cho tâm tư kẻ ngỗ nghịch lại hướng về nẻo chính đường ngay, và chuẩn bị một dân sẵn sàng đón Chúa” (Lc 1,17), và là người tiên phong: “Hài Nhi hỡi, con sẽ mang tước hiệu là ngôn sứ của Đấng Tối Cao: con sẽ đi trước Chúa, mở lối cho Người” (Lc 1,76).
Sống đẹp vì Gioan đã từ bỏ đời sống giàu sang uy thế của gia đình, đi vào trong sa mạc hoang vắng sống gắn bó với Thiên Chúa, lắng nghe và thực hiện thánh ý Ngài.
Sống đẹp vì Gioan có một số môn đệ, nhưng khi Chúa Giêsu đến, Gioan đã giới thiệu cho họ (Ga 1, 36) để họ trở thành môn đệ Chúa Giêsu.
Sống đẹp vì Gioan đã thu phục được đám đông, được dân chúng ngưỡng mộ, nhưng Gioan chỉ cho họ biết có Đấng cao cả hơn đang đến, Đấng mà Gioan không đáng cúi xuống cởi quai dép cho Ngài (Ga 1, 27).
Gioan sống đẹp vì đã luôn tâm niệm rằng: “Chúa Giêsu phải nổi bật lên, còn tôi phải lu mờ đi”(Ga 3, 30).
2. Cái chết hào hùng
Cái chết của Gioan đau thương mà rất hào hùng.
Là một ngôn sứ trong một đất nước đang thời nhiễu nhương,bị đế quốc Roma cai trị hà khắc, nhiều phe nhóm trong dân nổi loạn,dân chúng lầm than,Gioan cũng mang nặng những ưu tư những trăn trở yêu nước thương dân.
Vị vua Hêrôđê, một hôn quân bạo chúa, sống loạn luân, lấy vợ của anh mình là Hêrôđiađê. Lương tâm ngôn sứ đã thúc đẩy Gioan lên tiếng can ngăn và tố cáo những hành vi sai trái của nhà vua,kêu gọi vua trở về nẻo chính đường ngay.Vì thế Gioan đã bị vua chém đầu. Người theo Ðạo Hồi giáo Islam rất sùng kính Thánh Gioan ở giáo đường bên Syria. Theo tương truyền, trong ngôi đền thờ Hồi giáo Omajjden có phần mộ chôn đầu của Gioan. Người Hồi giáo Syria gọi ngài bằng tên Yaya Ben Zakariyah. Năm 2001, Đức Chân Phước Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã đến hành hương kính viếng cầu nguyện trước ngôi mộ Thánh nhân tại ngôi đền thờ này với những người Hồi giáo tại đó.
Trước mặt người đời, Gioan là kẻ thất bại. Sứ mạng của ông không hoàn thành,bị những kẻ gian ác ghen ghét hãm hại, cuối cùng chịu chết chém trong tù.Thế nhưng Chúa Giêsu đã nói về ông: “ Trong các con cái người nữ sinh ra,chưa từng một ai cao trọng hơn Gioan Tẩy giả”(Lc 7,28). Như vậy điều quan trọng trước mặt Thiên Chúa chẳng phải là danh giá hay thành tích mà là thái độ sống.Thái độ sống của Gioan là bất khuất trước bạo lực, dám nói sự thật bảo vệ công lý, cho dù sự thật đó dẫn đến tù đày và cái chết.Sứ mạng ngôn sứ thời nào cũng thế.Chúa Giêsu, vị ngôn sứ làm chứng cho sự thật cũng bị bắt bớ, bị hành hạ và bị đóng đinh thập giá. Các Thánh Tử Đạo cũng đã làm chứng cho sự thật, tiếp nối con đường Thầy mình đã đi,cũng gánh lấy tù tội và cái chết, bởi lẽ: “Nếu thế gian đã ghét Thầy,thì thế gian sẽ ghét các con vì các con sống giữa thế gian nhưng không thuộc về thế gian” (Ga 15,18 – 19).
3. Hồng ân ngày sinh nhật
Được sinh ra và lớn lên trong bàn tay phù hộ của Thiên Chúa, Gioan đã sống vai trò Ngôn sứ, dọn đường cho Chúa Cứu Thế và đã chết vì chân lý.
Mừng sinh nhật thánh Gioan Tẩy Giả, mỗi người nhớ đến ngày sinh nhật của mình. Ngày đó, cha mẹ, ông bà, thân bằng quyến thuộc mừng vui. Ai cũng cười tươi nhìn trẻ thơ, ai cũng muốn bồng ẵm chúc lành và đặt nhiều hy vọng nơi con trẻ. Rồi mỗi người được cha mẹ đặt tên, được đưa đến Nhà thờ để nhận phép thanh tẩy với một tên Thánh và trở nên con của Thiên Chúa.Mỗi lần mừng sinh nhật của mình, mỗi người nhớ đến bao nhiêu là hồng ân Thiên Chúa ban tặng để tạ ơn và sống xứng đáng hơn.
Ngày nay, nhiều gia đình có truyền thống kỷ niệm và mừng ngày sinh nhật của các thành viên trong gia đình. Đó là một việc làm thật ý nghĩa và nhiều niềm vui. Bởi vì, đã sinh ra trong đời, dù ở cảnh ngộ nào, ai cũng được Đấng Tạo Hóa ban tặng chức phận quý giá, đó là làm người. Qua mạc khải Kinh thánh và dưới ánh sáng đức tin, chúng ta biết rằng, con người được tạo dựng giống hình ảnh Thiên Chúa Tình Yêu. Như vậy, mỗi người trong nhân loại đều được mời gọi theo một hướng đi nhất định để hoàn tất một định mệnh tươi đẹp và một cuộc sống cao cả. 
Là Kitô hữu, chúng ta vui mừng tạ ơn và hy vọng về ơn gọi, định mệnh, hướng đi của mình.Thánh Gioan là một mẫu gương tuyệt vời, sống cao đẹp và chết hào hùng.
Lm Giuse Nguyễn Hữu An


Nguồn: Lamhong.org

9 thg 6, 2013

Có khó để là người Công giáo và sống đức tin Công giáo? Thiết tưởng có điều gì đó có thể hữu ích với 10 lý do khó là người Công giáo. Tiến sĩ Taylor Marshall (linh mục Anh giáo gia nhập Công giáo) đã trao đổi với khoảng 100 người trở lại Công giáo hoặc đang đắn đo việc hiệp thông với Công giáo. Đa số những người này theo Anh giáo hoặc Giáo hội Trưởng Lão, một số theo Tin Lành Luther. Ông thu thập “10 điều chính” có thể gây tổn thương hoặc khiến người ta không đến với Giáo hội Công giáo. Đó là…
1. Sự kiêu ngạo
Tôi không biết nói điều này sao cho khéo, nhưng kiêu ngạo là một rào cản. Một lúc nào đó tôi cảm thấy mình quá tốt để mọi người phải tôn trọng. Tôi xấu hổ mà thú nhận như vậy. Tại sao gia nhập một tôn giáo có những người cứ đề cao một hình ảnh địa phương nào đó? (Tôi ở Texas…). Một người Tin Lành nói với tôi rằng anh ta không thể là người Công giáo vì đó là “tôn giáo của quần chúng”. Tôi hỏi anh ta có ý nói gì, anh ta trả lời bằng cách dùng chữ “Mexicans” (những người Mễ).
Đó là “sự màu mè” ngược với tôn giáo của quần chúng và dân nhập cư. Cũng chỉ là lạnh nhạt để đến với nhà thờ Tân giáo có hồ bơi, sân bóng rổ, có chiếu powerpoint, khá giả,… Đôi khi tôi muốn rằng những bài giảng thực sự nhạt nhẽo, và nặng tính chỉ trích. Cách đó không thể là giảng thuyết.
2. Nghi thức khai tâm
Nghi thức khai tâm cho người lớn (RCIA – Rite for Christian Initiation of Adults) phải được sáng tạo để mỗi người trở lại Công giáo có thể điều kỳ diệu. Điều đó đang là yếu tố tri thức của RCIA phân biệt người công giáo “loại B” như đã mô tả ở trên. Những người này có vẻ không hiểu mức độ nhiệt thành của những người trở lại. Những người hướng dẫn này làm căng thẳng phần “cảm giác” của Công giáo và không là phần “chính thống” của Công giáo đối với sự thất vọng của những người trở lại.
Tôi biết nhiều người đã có kinh nghiệm về RCIA, nhưng tôi cũng biết nhiều người đã phải bảo vệ đức tin Công giáo khi lãnh nhận RCIA. Tôi tán thành những người dạy RCIA. Tôi biết chúng ta cảm ơn họ! Hãy cố gắng làm công việc tốt lành đó.
3. Bị chính người Công giáo chế diễu và xa lánh
Điều này có vẻ lạ, nhưng một số người Công giáo vẫn nghi ngờ những người trở lại Công giáo. Có hai dạng. Dạng A là những người Công giáo gốc lại nghi ngờ người Tin Lành trở lại không được học hỏi đúng theo cách Công giáo. Nếu tân tòng đó cầu nguyện ứng khẩu, người Công giáo nói:“Chúng tôi không làm như vậy”. Nếu người đó trích dẫn Kinh Thánh, người Công giáo cũng “nhíu mày, nhăn mặt”.
Một số người Công giáo cũng cho rằng cần chế diễu quá khứ của tôi không là Công giáo, như thể là cách hiệu lực hóa tôi nay là một thành viên của họ vậy. Một số người Công giáo chỉ thích nghe các tân tòng nói về quá khứ của họ. Điều này khiến tân tòng xa cách.
Dạng B là những người Công giáo gốc ít thể hiện đặc tính của đức tin Công giáo. Họ coi các tân tòng sốt sắng như mối đe dọa. Các tân tòng này quan tâm giáo lý và chân lý. Điều này khiến chúng ta bị bế tắc!
4. Bị người ngoài Công giáo chế diễu và xa lánh
Gia đình và bạn bè cũng không hiểu. Thậm chí ngay cả khi họ cố hiểu thì họ cũng không hề đánh giá được sự thất vọng, sự học hỏi, và sự xét mình để trở thành người Công giáo. Một số tín đồ Anh giáo vẫn gọi tôi là “cha”, điều này khiến tôi không thoải mái. Một số người khác viết những điều tồi tệ về tôi. Tôi chưa bao giờ bị tấn công dữ dội như vậy.
Sự căng thẳng luôn tăng lên với cha mẹ và anh chị em với nhau. Tôi đã từng nghe nói về các tân tòng không được thừa kế tài sản vì họ theo Công giáo Rôma.
5. Lẫn lộn về định hướng
Thật khó chấp nhận rằng chức linh mục Anh giáo của tôi vô hiệu. Tôi muốn là linh mục lâu dài, nhưng tôi giải tội, xức dầu bệnh nhân, v.v… Tôi làm gì? Thiên Chúa làm gì? Tại sao Thiên Chúa để tôi cử hành bí tích với những người đang tổn thương nhiều? Tôi vẫn không biết cách “phân loại” các hành động này.
Tôi nghĩ những người sẽ là tân tòng sẽ phải đấu tranh với các ý nghĩ như vậy. Dù họ là giáo dân, họ vẫn thắc mắc về quá khứ khi còn làm nghề gì đó, v.v…
6. Khó khăn về tài chính
Nếu bạn là một giáo sĩ, bạn phải chịu mất số tiền hưu trí “béo bở”, các lợi ích y tế, quỹ riêng, và lương bổng. Tôi đã từng gặp khó khăn như vậy. Có thể bạn không được đào tạo để làm bất cứ điều gì khác. Tôi e rằng mọi người sẽ trao cho bạn 6 người để giảng cho họ hoặc hướng dẫn một nhóm học hỏi Kinh Thánh. Nhưng nếu họ gia nhập Công giáo thì họ sẽ bị mất một khoản tiền lớn. Gia đình họ sẽ bị giảm thu nhập, trong khi nhiều chi phí cần trang trải.
7. Xử lý chuyện hôn nhân, ly hôn, đồng tính, ngừa thai, phá thai
Một số người có hôn nhân bất thường, kể cả đồng tính, hoặc áp dụng biện pháp ngừa thai. Giám mục thật khó cho phép ly hôn và tái hôn. Thật kho khi nói về lối sống. Thật không dễ để nói về việc triệt sản nam.
Đối với một số người, họ phải xem lại việc phá thai 10 năm trước. Những loại này ghi sâu trong lòng và khiến chúng ta lúng túng. Những điều này có thể hiểu được và tôi nghĩ rằng những điều này nên cân nhắc cẩn trọng. Nếu bạn là tân tòng nhiệt thành, hãy cầu nguyện và tìm một linh mục mà xưng tội. Theo kinh nghiệm riêng, việc xưng tội giúp bạn an tâm hơn nhiều, đừng hoang mang và lo sợ. Tôi nghĩ những người khác cũng đồng ý như vậy.
8. Phụng vụ
Tôi nghĩ rằng không có gì gây tranh luận trong Công giáo nhiều bằng vấn đề phụng vụ. Đó là trung tâm điểm. Tôi thích phụng vụ rõ ràng, chặt chẽ.
Có một số phụng vụ tuyệt vời và có một số không tuyệt vời. Đôi khi, các tân tòng chưa thể hiểu hết. Rất khó cho nhiều người, nhất là những người từ một tôn giáo khác có nhiều nghi thức rườm rà. Tôi không hiểu rõ vấn đề này. Những gì tôi biết là một vấn đề.
9. Các linh mục
Các linh mục Công giáo không như các mục sư Tin Lành. Nói theo tương đối, linh mục Công giáo sống xa cách hơn so với mục sư Tin Lành, mặc dù đôi khi có lý do chính đáng. Tín đồ Tin Lành quen với hình ảnh một mục sư hay cười, nhớ tên người này hay người nọ, và thường gặp người khác để tạo mối liên kết. Điều này hiếm xảy ra trong Công giáo. Tôi buồn mà thú thật như vậy! Thiết nghĩ chúng ta cần có những buổi trao đổi và mạn đàm để cùng nhau đào sâu về đức tin.
Dĩ nhiên, tôi biết một số linh mục Công giáo vẫn đi thăm hỏi giáo dân, nhưng không thường xuyên, mức nối kết còn “mong manh”. Do đó vẫn là hiếm. Tôi vui khi biết có một số linh mục sẵn sàng giải tội bất cứ lúc nào và thường tới các bệnh viện để giúp đỡ về tâm linh. Như vậy thật tốt!
10. Ý kiến về Thần học
Thật khó nói: “Tôi sẽ phục vụ”. Thần học không còn là “điều tôi nghĩ”. Nó đòi hỏi sự quy phục của trí tuệ. Đồng thời, đó cũng là sự tự do của trí tuệ. Cũng thật khó mà tự nhủ: “Tôi hoàn toàn không hiểu Kho tàng của Công trạng, nhưng tôi sẽ quy phục lý do của Giáo hội”.
 Kha Đông Anh chuyển ngữ từ TaylorMarshall.com


Nguồn: Lamhong.org

10 lý do khó là người Công giáo

Có khó để là người Công giáo và sống đức tin Công giáo? Thiết tưởng có điều gì đó có thể hữu ích với 10 lý do khó là người Công giáo. Tiến sĩ Taylor Marshall (linh mục Anh giáo gia nhập Công giáo) đã trao đổi với khoảng 100 người trở lại Công giáo hoặc đang đắn đo việc hiệp thông với Công giáo. Đa số những người này theo Anh giáo hoặc Giáo hội Trưởng Lão, một số theo Tin Lành Luther. Ông thu thập “10 điều chính” có thể gây tổn thương hoặc khiến người ta không đến với Giáo hội Công giáo. Đó là…
1. Sự kiêu ngạo
Tôi không biết nói điều này sao cho khéo, nhưng kiêu ngạo là một rào cản. Một lúc nào đó tôi cảm thấy mình quá tốt để mọi người phải tôn trọng. Tôi xấu hổ mà thú nhận như vậy. Tại sao gia nhập một tôn giáo có những người cứ đề cao một hình ảnh địa phương nào đó? (Tôi ở Texas…). Một người Tin Lành nói với tôi rằng anh ta không thể là người Công giáo vì đó là “tôn giáo của quần chúng”. Tôi hỏi anh ta có ý nói gì, anh ta trả lời bằng cách dùng chữ “Mexicans” (những người Mễ).
Đó là “sự màu mè” ngược với tôn giáo của quần chúng và dân nhập cư. Cũng chỉ là lạnh nhạt để đến với nhà thờ Tân giáo có hồ bơi, sân bóng rổ, có chiếu powerpoint, khá giả,… Đôi khi tôi muốn rằng những bài giảng thực sự nhạt nhẽo, và nặng tính chỉ trích. Cách đó không thể là giảng thuyết.
2. Nghi thức khai tâm
Nghi thức khai tâm cho người lớn (RCIA – Rite for Christian Initiation of Adults) phải được sáng tạo để mỗi người trở lại Công giáo có thể điều kỳ diệu. Điều đó đang là yếu tố tri thức của RCIA phân biệt người công giáo “loại B” như đã mô tả ở trên. Những người này có vẻ không hiểu mức độ nhiệt thành của những người trở lại. Những người hướng dẫn này làm căng thẳng phần “cảm giác” của Công giáo và không là phần “chính thống” của Công giáo đối với sự thất vọng của những người trở lại.
Tôi biết nhiều người đã có kinh nghiệm về RCIA, nhưng tôi cũng biết nhiều người đã phải bảo vệ đức tin Công giáo khi lãnh nhận RCIA. Tôi tán thành những người dạy RCIA. Tôi biết chúng ta cảm ơn họ! Hãy cố gắng làm công việc tốt lành đó.
3. Bị chính người Công giáo chế diễu và xa lánh
Điều này có vẻ lạ, nhưng một số người Công giáo vẫn nghi ngờ những người trở lại Công giáo. Có hai dạng. Dạng A là những người Công giáo gốc lại nghi ngờ người Tin Lành trở lại không được học hỏi đúng theo cách Công giáo. Nếu tân tòng đó cầu nguyện ứng khẩu, người Công giáo nói:“Chúng tôi không làm như vậy”. Nếu người đó trích dẫn Kinh Thánh, người Công giáo cũng “nhíu mày, nhăn mặt”.
Một số người Công giáo cũng cho rằng cần chế diễu quá khứ của tôi không là Công giáo, như thể là cách hiệu lực hóa tôi nay là một thành viên của họ vậy. Một số người Công giáo chỉ thích nghe các tân tòng nói về quá khứ của họ. Điều này khiến tân tòng xa cách.
Dạng B là những người Công giáo gốc ít thể hiện đặc tính của đức tin Công giáo. Họ coi các tân tòng sốt sắng như mối đe dọa. Các tân tòng này quan tâm giáo lý và chân lý. Điều này khiến chúng ta bị bế tắc!
4. Bị người ngoài Công giáo chế diễu và xa lánh
Gia đình và bạn bè cũng không hiểu. Thậm chí ngay cả khi họ cố hiểu thì họ cũng không hề đánh giá được sự thất vọng, sự học hỏi, và sự xét mình để trở thành người Công giáo. Một số tín đồ Anh giáo vẫn gọi tôi là “cha”, điều này khiến tôi không thoải mái. Một số người khác viết những điều tồi tệ về tôi. Tôi chưa bao giờ bị tấn công dữ dội như vậy.
Sự căng thẳng luôn tăng lên với cha mẹ và anh chị em với nhau. Tôi đã từng nghe nói về các tân tòng không được thừa kế tài sản vì họ theo Công giáo Rôma.
5. Lẫn lộn về định hướng
Thật khó chấp nhận rằng chức linh mục Anh giáo của tôi vô hiệu. Tôi muốn là linh mục lâu dài, nhưng tôi giải tội, xức dầu bệnh nhân, v.v… Tôi làm gì? Thiên Chúa làm gì? Tại sao Thiên Chúa để tôi cử hành bí tích với những người đang tổn thương nhiều? Tôi vẫn không biết cách “phân loại” các hành động này.
Tôi nghĩ những người sẽ là tân tòng sẽ phải đấu tranh với các ý nghĩ như vậy. Dù họ là giáo dân, họ vẫn thắc mắc về quá khứ khi còn làm nghề gì đó, v.v…
6. Khó khăn về tài chính
Nếu bạn là một giáo sĩ, bạn phải chịu mất số tiền hưu trí “béo bở”, các lợi ích y tế, quỹ riêng, và lương bổng. Tôi đã từng gặp khó khăn như vậy. Có thể bạn không được đào tạo để làm bất cứ điều gì khác. Tôi e rằng mọi người sẽ trao cho bạn 6 người để giảng cho họ hoặc hướng dẫn một nhóm học hỏi Kinh Thánh. Nhưng nếu họ gia nhập Công giáo thì họ sẽ bị mất một khoản tiền lớn. Gia đình họ sẽ bị giảm thu nhập, trong khi nhiều chi phí cần trang trải.
7. Xử lý chuyện hôn nhân, ly hôn, đồng tính, ngừa thai, phá thai
Một số người có hôn nhân bất thường, kể cả đồng tính, hoặc áp dụng biện pháp ngừa thai. Giám mục thật khó cho phép ly hôn và tái hôn. Thật kho khi nói về lối sống. Thật không dễ để nói về việc triệt sản nam.
Đối với một số người, họ phải xem lại việc phá thai 10 năm trước. Những loại này ghi sâu trong lòng và khiến chúng ta lúng túng. Những điều này có thể hiểu được và tôi nghĩ rằng những điều này nên cân nhắc cẩn trọng. Nếu bạn là tân tòng nhiệt thành, hãy cầu nguyện và tìm một linh mục mà xưng tội. Theo kinh nghiệm riêng, việc xưng tội giúp bạn an tâm hơn nhiều, đừng hoang mang và lo sợ. Tôi nghĩ những người khác cũng đồng ý như vậy.
8. Phụng vụ
Tôi nghĩ rằng không có gì gây tranh luận trong Công giáo nhiều bằng vấn đề phụng vụ. Đó là trung tâm điểm. Tôi thích phụng vụ rõ ràng, chặt chẽ.
Có một số phụng vụ tuyệt vời và có một số không tuyệt vời. Đôi khi, các tân tòng chưa thể hiểu hết. Rất khó cho nhiều người, nhất là những người từ một tôn giáo khác có nhiều nghi thức rườm rà. Tôi không hiểu rõ vấn đề này. Những gì tôi biết là một vấn đề.
9. Các linh mục
Các linh mục Công giáo không như các mục sư Tin Lành. Nói theo tương đối, linh mục Công giáo sống xa cách hơn so với mục sư Tin Lành, mặc dù đôi khi có lý do chính đáng. Tín đồ Tin Lành quen với hình ảnh một mục sư hay cười, nhớ tên người này hay người nọ, và thường gặp người khác để tạo mối liên kết. Điều này hiếm xảy ra trong Công giáo. Tôi buồn mà thú thật như vậy! Thiết nghĩ chúng ta cần có những buổi trao đổi và mạn đàm để cùng nhau đào sâu về đức tin.
Dĩ nhiên, tôi biết một số linh mục Công giáo vẫn đi thăm hỏi giáo dân, nhưng không thường xuyên, mức nối kết còn “mong manh”. Do đó vẫn là hiếm. Tôi vui khi biết có một số linh mục sẵn sàng giải tội bất cứ lúc nào và thường tới các bệnh viện để giúp đỡ về tâm linh. Như vậy thật tốt!
10. Ý kiến về Thần học
Thật khó nói: “Tôi sẽ phục vụ”. Thần học không còn là “điều tôi nghĩ”. Nó đòi hỏi sự quy phục của trí tuệ. Đồng thời, đó cũng là sự tự do của trí tuệ. Cũng thật khó mà tự nhủ: “Tôi hoàn toàn không hiểu Kho tàng của Công trạng, nhưng tôi sẽ quy phục lý do của Giáo hội”.
 Kha Đông Anh chuyển ngữ từ TaylorMarshall.com


Nguồn: Lamhong.org
Tôi là người vô thần. Tôi không tin Thiên Chúa và cố chứng minh rằng người ta thật ngu xuẩn khi tin vào Thiên Chúa!
Nếu bạn hỏi tôi rằng tôi có nghĩ “tội lỗi” hiện hữu hoặc tôi có bao giờ phạm tội hay không, tôi sẽ cười thật to. “Tội lỗi là khái niệm của Kitô giáo muốn quy kết các cảm giác tội lỗi về những sự tưởng tượng là xúc phạm ra tới một Thiên Chúa cũng do tưởng tượng mà thôi”, và thậm chí tôi còn có thể nói điều gì đó để châm biếm bạn.
Không, tôi chưa bao giờ phạm tội. Nhưng, cũng như mọi người, đôi khi tôi biết mình làm những điều khiến người khác bị tổn thương. Và sau đó, nếu tôi ngĩ về điều đó, tôi sẽ cảm thấy không ổn và thậm chí còn phải xin lỗi họ. Có thể những cảm giác tội lỗi đó do di truyền từ nguồn gốc, hoặc được xây dựng mang tính xã hội, nhưng tôi không cố giải thích để biện minh hành vi xấu của tôi với cách duy lý hóa như vậy. Cho dù tôi là người vô thần, tôi vẫn cảm thấy ý chí tự do hiện hữu và có các tiêu chuẩn luân lý khách quan rằng vượt quá giới hạn cho phép là sai trái.
Sau khi thua cuộc đối với sự rối loạn lo âu về xã hội, hoang mang, và trầm cảm, lần đầu tiên trong đời tôi nhìn Kitô giáo bằng cách nhìn chân thật. Tôi bỏ qua sự phản ứng với chữ “tội lỗi”, và cố gắng hiểu những gì mà Đức Tin Kitô giáo nói về nguyên nhân tội lỗi… và cách chữa trị. Nhờ tôi cầu nguyện, và nhờ Đức Tin Thiên Chúa ban cho tôi, tôi nhận thấy điều xấu mà tôi đã làm không chỉ làm tổn thương người khác, mà còn chống lại Thiên Chúa tốt lành, Đâng yêu thương tôi và đáng được tôi yêu mến.
Chúng ta không ai lại muốn làm tổn thương người mà mình yêu thương. Rất ít người yêu chúng ta trọn vẹn, vẫn có sự ích kỷ. Khi tôi tin vào Đức Kitô, tôi nhận thấy rằng tôi đã làm tổn thương Ngài bằng tội lỗi, và làm Ngài đau khổ quá đỗi. Nhưng liệu pháp còn lớn hơn: Lòng Chúa Thương Xót. Khám phá được Đức Kitô là tình yêu và lòng thương xót sẽ khiến người ta rơi lệ vì đau buồn và biết ơn. Khi người ta có được “kinh nghiệm hoán cải” thì sẽ ăn năn và vui mừng đón nhận ơn tha thứ của Thiên Chúa.
Suốt những năm sống vô vọng và vắng bóng Thiên Chúa, tội lỗi đè nặng trên tôi. Nước rửa tội đổ trên tôi, và Hồng Ân Thiên Chúa đầy tràn trong tôi. Bây giờ tôi mới hiểu dụ ngôn Chúa Giêsu nói về người đầy tớ không tha thứ cho người đã làm điều chống lại anh ta. Tôi mong cho mọi người, nhất là bạn bè và gia đình tôi – những người chưa nhận biết Đức Kitô, sẽ trở về tin vào Ngài và đón nhận lòng thương xót mà Ngài luôn mong muốn trao ban cho họ.
Tác giả DEVIN ROSE (*)
Trầm Thiên Thu chuyển ngữ từ IgnitumToday.com
(*) Devin Rose là kỹ sư phần mềm, vô thần, rồi theo Tin Lành Baptist, cuối cùng lại gia nhập Công giáo.

Khi người vô thần sám hối

Tôi là người vô thần. Tôi không tin Thiên Chúa và cố chứng minh rằng người ta thật ngu xuẩn khi tin vào Thiên Chúa!
Nếu bạn hỏi tôi rằng tôi có nghĩ “tội lỗi” hiện hữu hoặc tôi có bao giờ phạm tội hay không, tôi sẽ cười thật to. “Tội lỗi là khái niệm của Kitô giáo muốn quy kết các cảm giác tội lỗi về những sự tưởng tượng là xúc phạm ra tới một Thiên Chúa cũng do tưởng tượng mà thôi”, và thậm chí tôi còn có thể nói điều gì đó để châm biếm bạn.
Không, tôi chưa bao giờ phạm tội. Nhưng, cũng như mọi người, đôi khi tôi biết mình làm những điều khiến người khác bị tổn thương. Và sau đó, nếu tôi ngĩ về điều đó, tôi sẽ cảm thấy không ổn và thậm chí còn phải xin lỗi họ. Có thể những cảm giác tội lỗi đó do di truyền từ nguồn gốc, hoặc được xây dựng mang tính xã hội, nhưng tôi không cố giải thích để biện minh hành vi xấu của tôi với cách duy lý hóa như vậy. Cho dù tôi là người vô thần, tôi vẫn cảm thấy ý chí tự do hiện hữu và có các tiêu chuẩn luân lý khách quan rằng vượt quá giới hạn cho phép là sai trái.
Sau khi thua cuộc đối với sự rối loạn lo âu về xã hội, hoang mang, và trầm cảm, lần đầu tiên trong đời tôi nhìn Kitô giáo bằng cách nhìn chân thật. Tôi bỏ qua sự phản ứng với chữ “tội lỗi”, và cố gắng hiểu những gì mà Đức Tin Kitô giáo nói về nguyên nhân tội lỗi… và cách chữa trị. Nhờ tôi cầu nguyện, và nhờ Đức Tin Thiên Chúa ban cho tôi, tôi nhận thấy điều xấu mà tôi đã làm không chỉ làm tổn thương người khác, mà còn chống lại Thiên Chúa tốt lành, Đâng yêu thương tôi và đáng được tôi yêu mến.
Chúng ta không ai lại muốn làm tổn thương người mà mình yêu thương. Rất ít người yêu chúng ta trọn vẹn, vẫn có sự ích kỷ. Khi tôi tin vào Đức Kitô, tôi nhận thấy rằng tôi đã làm tổn thương Ngài bằng tội lỗi, và làm Ngài đau khổ quá đỗi. Nhưng liệu pháp còn lớn hơn: Lòng Chúa Thương Xót. Khám phá được Đức Kitô là tình yêu và lòng thương xót sẽ khiến người ta rơi lệ vì đau buồn và biết ơn. Khi người ta có được “kinh nghiệm hoán cải” thì sẽ ăn năn và vui mừng đón nhận ơn tha thứ của Thiên Chúa.
Suốt những năm sống vô vọng và vắng bóng Thiên Chúa, tội lỗi đè nặng trên tôi. Nước rửa tội đổ trên tôi, và Hồng Ân Thiên Chúa đầy tràn trong tôi. Bây giờ tôi mới hiểu dụ ngôn Chúa Giêsu nói về người đầy tớ không tha thứ cho người đã làm điều chống lại anh ta. Tôi mong cho mọi người, nhất là bạn bè và gia đình tôi – những người chưa nhận biết Đức Kitô, sẽ trở về tin vào Ngài và đón nhận lòng thương xót mà Ngài luôn mong muốn trao ban cho họ.
Tác giả DEVIN ROSE (*)
Trầm Thiên Thu chuyển ngữ từ IgnitumToday.com
(*) Devin Rose là kỹ sư phần mềm, vô thần, rồi theo Tin Lành Baptist, cuối cùng lại gia nhập Công giáo.