10 thg 9, 2013



Bố mẹ nước mắt đầm đìa, nói với nó rằng: "Một tháng trước, anh con lao xuống sông cứu một đứa bé, anh không biết bơi. Đứa bé đó được cứu sống nhưng anh con không lên nữa". Bố mẹ nó úp mặt khóc...

***

Lúc nó ra đời, kế hoạch hóa gia đình quản rất ngặt, trong thôn chỉ có hai nhà có em bé. Một nhà nếu không trốn đi vùng khác thì bị phạt tiền, mỗi nó đường đường chính chính oe oe chào đời làm con cưng. Không phải vì nhà nó có quyền có thế mà là vì anh trai nó vốn mang bệnh não bẩm sinh, dân gian gọi là bệnh đần.

Mẹ nó cầm cây roi trên tay dọa anh nó: "Vĩnh viễn không được lại gần em nghe chưa". Vì sợ anh làm hại nó nên mẹ cấm anh vào phòng của nó. Đến nỗi ăn cơm cũng bắt anh ấy ăn một mình trong căn phòng nhỏ. Anh hay lén lút ngồi xổm bên ngoài khung cửa sổ nhìn trộm nó, thấy em trai là anh sung sướng cười, nước bọt theo khóe miệng chảy xuống...

Thật tình lúc nhỏ anh trai cũng được cưng lắm, đến khi những đứa trẻ cùng tuổi tập nói tập đi thì anh nó vẫn ngốc dại, không mở miệng nói được từ nào. Khám bệnh xong mới biết anh nó bị bệnh não bẩm sinh. Ông bà nội trút hết thất vọng và uất ức lên đầu bố mẹ nó, mẹ nó đem hết oan ức đổ lên đầu anh nó, hễ gặp một chuyện nhỏ là anh nó phải chịu một trận mưa roi.

Có lúc mẹ ôm nó phơi nắng trong vườn, anh nó cẩn thận mon men đến gần, thích quá anh đưa tay sờ lên má nó. Mẹ nó như sợ một bệnh dịch gì vội bồng nó đi chỗ khác, mắng nhiếc anh nó: "Không được lại gần em, mày muốn truyền bệnh cho em à?".

Một lần, mẹ không có nhà. Từ xa, anh ngắm mợ bồng nó trên tay, vẫn là cười ngốc thôi. Mợ xót lòng, vẫy tay gọi: "Đến đây cầm tay em một tí này". Anh nó vội trốn đi, miệng lắp bắp nói liên tục không rõ: "Không... không cầm... truyền bệnh, truyền bệnh".

Hôm đó mợ khóc òa, anh nó đưa tay lên lau nước mắt cho mợ, vẫn là cười ngốc thôi.

Nó lớn dần, đang thời tập nói. Mấy lần nó huơ tay lên, bò tới phía anh. Anh nó mừng quá nhảy cẫng lên. Mẹ nó tới kịp, vội vội vàng vàng bồng nó đi chỗ khác.

Nhìn những đứa trẻ khác mút kem que, anh nó liếm môi, cảm thấy nóng và khát lắm. Bọn nhóc nói nếu anh chịu làm chó tụi nó sẽ cho kem. Anh nó làm chó bò trên đất, nhưng bọn nhóc quỵt kem và cười ầm lên. Bằng một động tác nhanh gọn, anh nó nhổm người lên, như điên dại cướp lấy que kem. Bọn nhóc sợ quá khóc rống. Anh nó cầm chiến lợi phẩm chạy về nhà, không biết rằng trên đường que kem tan dần, tan dần. Về đến nhà kem chỉ còn một miếng nhỏ tội nghiệp mà thôi. Nó đang chơi ở vườn sau, nhân lúc mẹ không để ý, anh đem kem đến trước mặt nó và nói: "Ăn... ăn... em ăn đi".

Mẹ nó thấy anh cầm cái que như đang ra hiệu gì đấy, vội chạy đến xô anh ngã nhoài ra đất, que kem lấm lem đầy đất, anh nó ngẩn người nhìn một lúc lâu rồi ngoác miệng khóc.

Nó biết nói nhưng chưa từng gọi một tiếng anh. Anh nó hi vọng mình có thể như bao người anh khác được em trai là nó gọi một tiếng anh. Vì vậy lúc nó đang đùa nghịch ở sân sau, anh đứng phía ngoài xa ba mét, lấy hết sức hét: "Anh, anh". Anh muốn nó nghe thấy sẽ học được cách gọi anh. Một lần anh đang cố gắng hét thật to, mẹ mắng nhiếc anh và đuổi đi chỗ khác chơi. Lúc đó nó ngước mắt lên nhìn anh, đột nhiên gọi thật rõ một tiếng: "Anh".

Anh nó chưa bao giờ vui như thế, hoa chân múa tay, bỗng nhiên chạy đến ôm nó thật chặt, nước mắt nước mũi tèm lem đầy vai áo nó.

Từ nhỏ nó đã bị người ta gọi là "em thằng ngốc". Lớn lên, nó ghét cách gọi này. Bởi vậy nó luôn mặc cảm và hận ghét anh nó.

Một lần, cũng vì chính cách gọi này mà nó bị người ta đánh. Nó bị lũ bạn đè lên người. Bỗng nhiên lũ bạn bị ai đó nhấc lên - là anh trai nó.

Nó chưa bao giờ thấy anh nó mạnh mẽ như thế, nhấc bổng cả lũ bạn nó lên, quật ngã chúng ra đất. Lũ bạn vừa khóc vừa thét đau. Nó thấy sợ, rắc rối rồi, bố chắc chắn sẽ phạt nó. Phút ấy nó hận mẹ tận xương tủy vì sao lại sinh cho nó một ông anh trai đần độn như thế. Nó dùng hết sức đẩy anh trai ra, hét rằng: "Ai bảo anh quản chuyện người khác, anh là thằng ngốc". Anh nó ngã ra đất, thẫn thờ nhìn theo bóng nó khuất xa dần.

Hôm đó, bố bắt hai anh em quỳ ra đất rồi dùng roi mây quất tới tấp. Anh bò lên người nó, run rẩy nói: "Đánh... đánh con, đừng đánh em".

Mấy hôm sau mẹ mang kẹo từ thành phố về, chia cho nó tám viên, anh nó ba viên. Không chỉ là chia kẹo, những lần khác anh nó vẫn chịu vậy. Sáng sớm, anh đứng sau cửa gương đợi nó đi ra, xòe bàn tay có hai viên kẹo. Nó lờ đi, coi như không thấy gì. Anh nó lại chạy đến trước mặt, xòe bàn tay có ba viên kẹo và nói: "Ăn... ăn, em ăn đi".

Không biết vì sao lần này nó đột nhiên không cần, anh nó chạy theo quấn quýt cả chân, không nói lời nào, nhét cả ba viên kẹo vào mồm nó.

Lúc kẹo trôi qua khỏi họng, nó thấy rõ mắt anh trai đẫm nước mắt.

Cầm giấy trúng tuyển vào đại học, bố mẹ rất mừng, anh trai nó cũng vui lây. Thật ra anh nó không hiểu đại học là gì, nhưng biết rằng em trai đỗ đại học mang vinh hạnh đến cho cả nhà và cũng không ai gọi mình là thằng ngốc nữa.

Trước đêm nó lên thành phố nhập học, anh vẫn không vào phòng nó, chỉ đứng ngoài cửa sổ và đưa cho nó một bọc vải, mở ra thấy vài bộ áo quần mới. Đều là của mợ cho hai anh em nó hoặc là bà cô ở thành phố gửi tặng. Thì ra mấy năm qua anh nó chưa hề mặc áo quần mới. Bởi mẹ không để ý đến nên anh giấu đi. Lúc đó, nó phát hiện áo trên người anh đã cũ mèm, rách vài chỗ, chiếc quần ngắn lên tận mắt cá chân, nom thật tội nghiệp. Mũi nó cay cay, bao nhiêu năm qua ngoài sự ghét bỏ, hận thù nó có cho anh cái gì đâu.

Anh nó vẫn cười ngốc thôi, có điều trong mắt đầy hi vọng, nó không biết đó là hi vọng gì. Mặc dù anh không biết nó đã cao lên rất nhiều, không biết áo quần ấy đã đến lúc lỗi thời không thể chưng diện đi ra phố được nữa nhưng nó vẫn khoác mặc vào, xoay tới xoay lui giả bộ vui mừng ríu rít hỏi anh: "Đẹp không? Có hợp không?". Anh nó gật đầu, ngoác miệng cười.

Nó viết lên giấy hai chữ "huynh đệ" rồi chỉ cho anh chữ này là huynh, chữ này là đệ, huynh là anh, đệ là em. Huynh đệ có nghĩa là có anh rồi mới có em, không có anh thì không có em. Hôm đó, anh nó lại đọc ngược thành "đệ huynh". Lúc lên đường nó khóc, anh nói rằng trong lòng anh nó là số 1, không có nó thì không có anh.

Nói đến đời sống đại học, nó thấy rất thú vị, nhiều điều mới mẻ, dường như nó quên mất người anh trai nơi quê nhà.

Lần nọ mẹ đi gọi điện thoại cho nó, anh đi theo đến bưu điện. Mẹ nói rất nhiều, cả tiếng đồng hồ rồi bảo với nó: "Nói chuyện với anh con mấy câu này". Anh tiếp điện thoại, đợi thật lâu không nghe tiếng gì cả, mẹ nói rằng: "Thôi cúp máy đi, anh con khóc rồi, anh con chỉ lên ngực ý nói rằng nhớ con đó".

Nó vốn muốn nói mẹ đưa điện thoại lại cho anh trai để nói với anh rằng: "Đợi em về sẽ dạy anh học chữ, sẽ mua cho anh những kẹo bánh mà chỉ ở thành phố mới có, đem về cho anh thật nhiều quà". Nhưng nó không mở nổi miệng và cúp điện thoại. Chỉ vì nó không muốn bạn cùng phòng biết nó có một anh trai bị bệnh não bẩm sinh, một anh trai đần độn.

Hè đến, nó về nhà, trên xe ăn một viên kẹo, bỗng nhiên nhớ lại anh từng nhét kẹo vào miệng nó, kẹo ở trong miệng nhưng lòng nó đắng nghét.
Lần đầu tiên về đến nhà, nó hét thật to: "Anh, anh ơi. Em đã về, xem em mang gì về cho anh này". Thế nhưng không có tiếng cười ngốc của anh nó nữa, không có bóng ông anh gần 30 tuổi đời còn mặc quần ngắn đến mắt cá chân nữa.

Bố mẹ nước mắt đầm đìa, nói với nó rằng: "Một tháng trước, anh con lao xuống sông cứu một đứa bé, anh không biết bơi. Đứa bé đó được cứu sống nhưng anh con không lên nữa". Bố mẹ nó úp mặt khóc...

Một mình đứng bên dòng sông, ký ức về anh chợt ùa về tha thiết. Nó rút trong túi một tờ giấy có viết hai chữ "huynh đệ". Đó là chữ của nó, phía dưới là chữ méo xẹo của anh nó. Nó có thể nhận ra anh nó viết "đệ huynh".

ANH ĐIÊN



Bố mẹ nước mắt đầm đìa, nói với nó rằng: "Một tháng trước, anh con lao xuống sông cứu một đứa bé, anh không biết bơi. Đứa bé đó được cứu sống nhưng anh con không lên nữa". Bố mẹ nó úp mặt khóc...

***

Lúc nó ra đời, kế hoạch hóa gia đình quản rất ngặt, trong thôn chỉ có hai nhà có em bé. Một nhà nếu không trốn đi vùng khác thì bị phạt tiền, mỗi nó đường đường chính chính oe oe chào đời làm con cưng. Không phải vì nhà nó có quyền có thế mà là vì anh trai nó vốn mang bệnh não bẩm sinh, dân gian gọi là bệnh đần.

Mẹ nó cầm cây roi trên tay dọa anh nó: "Vĩnh viễn không được lại gần em nghe chưa". Vì sợ anh làm hại nó nên mẹ cấm anh vào phòng của nó. Đến nỗi ăn cơm cũng bắt anh ấy ăn một mình trong căn phòng nhỏ. Anh hay lén lút ngồi xổm bên ngoài khung cửa sổ nhìn trộm nó, thấy em trai là anh sung sướng cười, nước bọt theo khóe miệng chảy xuống...

Thật tình lúc nhỏ anh trai cũng được cưng lắm, đến khi những đứa trẻ cùng tuổi tập nói tập đi thì anh nó vẫn ngốc dại, không mở miệng nói được từ nào. Khám bệnh xong mới biết anh nó bị bệnh não bẩm sinh. Ông bà nội trút hết thất vọng và uất ức lên đầu bố mẹ nó, mẹ nó đem hết oan ức đổ lên đầu anh nó, hễ gặp một chuyện nhỏ là anh nó phải chịu một trận mưa roi.

Có lúc mẹ ôm nó phơi nắng trong vườn, anh nó cẩn thận mon men đến gần, thích quá anh đưa tay sờ lên má nó. Mẹ nó như sợ một bệnh dịch gì vội bồng nó đi chỗ khác, mắng nhiếc anh nó: "Không được lại gần em, mày muốn truyền bệnh cho em à?".

Một lần, mẹ không có nhà. Từ xa, anh ngắm mợ bồng nó trên tay, vẫn là cười ngốc thôi. Mợ xót lòng, vẫy tay gọi: "Đến đây cầm tay em một tí này". Anh nó vội trốn đi, miệng lắp bắp nói liên tục không rõ: "Không... không cầm... truyền bệnh, truyền bệnh".

Hôm đó mợ khóc òa, anh nó đưa tay lên lau nước mắt cho mợ, vẫn là cười ngốc thôi.

Nó lớn dần, đang thời tập nói. Mấy lần nó huơ tay lên, bò tới phía anh. Anh nó mừng quá nhảy cẫng lên. Mẹ nó tới kịp, vội vội vàng vàng bồng nó đi chỗ khác.

Nhìn những đứa trẻ khác mút kem que, anh nó liếm môi, cảm thấy nóng và khát lắm. Bọn nhóc nói nếu anh chịu làm chó tụi nó sẽ cho kem. Anh nó làm chó bò trên đất, nhưng bọn nhóc quỵt kem và cười ầm lên. Bằng một động tác nhanh gọn, anh nó nhổm người lên, như điên dại cướp lấy que kem. Bọn nhóc sợ quá khóc rống. Anh nó cầm chiến lợi phẩm chạy về nhà, không biết rằng trên đường que kem tan dần, tan dần. Về đến nhà kem chỉ còn một miếng nhỏ tội nghiệp mà thôi. Nó đang chơi ở vườn sau, nhân lúc mẹ không để ý, anh đem kem đến trước mặt nó và nói: "Ăn... ăn... em ăn đi".

Mẹ nó thấy anh cầm cái que như đang ra hiệu gì đấy, vội chạy đến xô anh ngã nhoài ra đất, que kem lấm lem đầy đất, anh nó ngẩn người nhìn một lúc lâu rồi ngoác miệng khóc.

Nó biết nói nhưng chưa từng gọi một tiếng anh. Anh nó hi vọng mình có thể như bao người anh khác được em trai là nó gọi một tiếng anh. Vì vậy lúc nó đang đùa nghịch ở sân sau, anh đứng phía ngoài xa ba mét, lấy hết sức hét: "Anh, anh". Anh muốn nó nghe thấy sẽ học được cách gọi anh. Một lần anh đang cố gắng hét thật to, mẹ mắng nhiếc anh và đuổi đi chỗ khác chơi. Lúc đó nó ngước mắt lên nhìn anh, đột nhiên gọi thật rõ một tiếng: "Anh".

Anh nó chưa bao giờ vui như thế, hoa chân múa tay, bỗng nhiên chạy đến ôm nó thật chặt, nước mắt nước mũi tèm lem đầy vai áo nó.

Từ nhỏ nó đã bị người ta gọi là "em thằng ngốc". Lớn lên, nó ghét cách gọi này. Bởi vậy nó luôn mặc cảm và hận ghét anh nó.

Một lần, cũng vì chính cách gọi này mà nó bị người ta đánh. Nó bị lũ bạn đè lên người. Bỗng nhiên lũ bạn bị ai đó nhấc lên - là anh trai nó.

Nó chưa bao giờ thấy anh nó mạnh mẽ như thế, nhấc bổng cả lũ bạn nó lên, quật ngã chúng ra đất. Lũ bạn vừa khóc vừa thét đau. Nó thấy sợ, rắc rối rồi, bố chắc chắn sẽ phạt nó. Phút ấy nó hận mẹ tận xương tủy vì sao lại sinh cho nó một ông anh trai đần độn như thế. Nó dùng hết sức đẩy anh trai ra, hét rằng: "Ai bảo anh quản chuyện người khác, anh là thằng ngốc". Anh nó ngã ra đất, thẫn thờ nhìn theo bóng nó khuất xa dần.

Hôm đó, bố bắt hai anh em quỳ ra đất rồi dùng roi mây quất tới tấp. Anh bò lên người nó, run rẩy nói: "Đánh... đánh con, đừng đánh em".

Mấy hôm sau mẹ mang kẹo từ thành phố về, chia cho nó tám viên, anh nó ba viên. Không chỉ là chia kẹo, những lần khác anh nó vẫn chịu vậy. Sáng sớm, anh đứng sau cửa gương đợi nó đi ra, xòe bàn tay có hai viên kẹo. Nó lờ đi, coi như không thấy gì. Anh nó lại chạy đến trước mặt, xòe bàn tay có ba viên kẹo và nói: "Ăn... ăn, em ăn đi".

Không biết vì sao lần này nó đột nhiên không cần, anh nó chạy theo quấn quýt cả chân, không nói lời nào, nhét cả ba viên kẹo vào mồm nó.

Lúc kẹo trôi qua khỏi họng, nó thấy rõ mắt anh trai đẫm nước mắt.

Cầm giấy trúng tuyển vào đại học, bố mẹ rất mừng, anh trai nó cũng vui lây. Thật ra anh nó không hiểu đại học là gì, nhưng biết rằng em trai đỗ đại học mang vinh hạnh đến cho cả nhà và cũng không ai gọi mình là thằng ngốc nữa.

Trước đêm nó lên thành phố nhập học, anh vẫn không vào phòng nó, chỉ đứng ngoài cửa sổ và đưa cho nó một bọc vải, mở ra thấy vài bộ áo quần mới. Đều là của mợ cho hai anh em nó hoặc là bà cô ở thành phố gửi tặng. Thì ra mấy năm qua anh nó chưa hề mặc áo quần mới. Bởi mẹ không để ý đến nên anh giấu đi. Lúc đó, nó phát hiện áo trên người anh đã cũ mèm, rách vài chỗ, chiếc quần ngắn lên tận mắt cá chân, nom thật tội nghiệp. Mũi nó cay cay, bao nhiêu năm qua ngoài sự ghét bỏ, hận thù nó có cho anh cái gì đâu.

Anh nó vẫn cười ngốc thôi, có điều trong mắt đầy hi vọng, nó không biết đó là hi vọng gì. Mặc dù anh không biết nó đã cao lên rất nhiều, không biết áo quần ấy đã đến lúc lỗi thời không thể chưng diện đi ra phố được nữa nhưng nó vẫn khoác mặc vào, xoay tới xoay lui giả bộ vui mừng ríu rít hỏi anh: "Đẹp không? Có hợp không?". Anh nó gật đầu, ngoác miệng cười.

Nó viết lên giấy hai chữ "huynh đệ" rồi chỉ cho anh chữ này là huynh, chữ này là đệ, huynh là anh, đệ là em. Huynh đệ có nghĩa là có anh rồi mới có em, không có anh thì không có em. Hôm đó, anh nó lại đọc ngược thành "đệ huynh". Lúc lên đường nó khóc, anh nói rằng trong lòng anh nó là số 1, không có nó thì không có anh.

Nói đến đời sống đại học, nó thấy rất thú vị, nhiều điều mới mẻ, dường như nó quên mất người anh trai nơi quê nhà.

Lần nọ mẹ đi gọi điện thoại cho nó, anh đi theo đến bưu điện. Mẹ nói rất nhiều, cả tiếng đồng hồ rồi bảo với nó: "Nói chuyện với anh con mấy câu này". Anh tiếp điện thoại, đợi thật lâu không nghe tiếng gì cả, mẹ nói rằng: "Thôi cúp máy đi, anh con khóc rồi, anh con chỉ lên ngực ý nói rằng nhớ con đó".

Nó vốn muốn nói mẹ đưa điện thoại lại cho anh trai để nói với anh rằng: "Đợi em về sẽ dạy anh học chữ, sẽ mua cho anh những kẹo bánh mà chỉ ở thành phố mới có, đem về cho anh thật nhiều quà". Nhưng nó không mở nổi miệng và cúp điện thoại. Chỉ vì nó không muốn bạn cùng phòng biết nó có một anh trai bị bệnh não bẩm sinh, một anh trai đần độn.

Hè đến, nó về nhà, trên xe ăn một viên kẹo, bỗng nhiên nhớ lại anh từng nhét kẹo vào miệng nó, kẹo ở trong miệng nhưng lòng nó đắng nghét.
Lần đầu tiên về đến nhà, nó hét thật to: "Anh, anh ơi. Em đã về, xem em mang gì về cho anh này". Thế nhưng không có tiếng cười ngốc của anh nó nữa, không có bóng ông anh gần 30 tuổi đời còn mặc quần ngắn đến mắt cá chân nữa.

Bố mẹ nước mắt đầm đìa, nói với nó rằng: "Một tháng trước, anh con lao xuống sông cứu một đứa bé, anh không biết bơi. Đứa bé đó được cứu sống nhưng anh con không lên nữa". Bố mẹ nó úp mặt khóc...

Một mình đứng bên dòng sông, ký ức về anh chợt ùa về tha thiết. Nó rút trong túi một tờ giấy có viết hai chữ "huynh đệ". Đó là chữ của nó, phía dưới là chữ méo xẹo của anh nó. Nó có thể nhận ra anh nó viết "đệ huynh".

20 thg 8, 2013

Một mùa hè nữa sắp trôi qua, những tán lá của vườn cây xanh trong khuôn viên giáo xứ bắt đầu héo úa, tiếng ve râm ran của những buổi trưa hè ngày nào đó nay bắt đầu thưa thớt dần, cái nắng của những ngày cuối hè trở nên gay gắt đến khó chịu,… Không gian vắng lặng lại càng vắng hơn khi hình bóng các anh vẫn còn biệt tích trong chốn lao tù. Mùa hè sắp phải đóng sập cửa lại để nhường chỗ cho một mùa thu buồn tẻo với những cơn mưa dài tầm tả suốt ngày đêm. Những ngày này, thời tiết cuối hè đã oi bức lại càng nóng hơn khi được tin bạn Phương Uyên, một cô gái trẻ có tinh thần yêu nước mãnh liệt không chịu khuất phục trước cái ác nên đã phải ngồi trong chốn lao tù một cách vô lý và đã được tự do vào hôm phiên tòa phúc thẩm ngày 16/8. Người người khắp nơi vui mừng vì sự kiện này, cả thế giới như hướng về nữ anh hùng trẻ tuổi, ngồi một mình trong căn phòng nhỏ bé, lòng tôi cảm thấy nhói lên khi nhìn vào những bức hình và những câu nói đanh thép và kiên cường của các anh. “Hãy sống cho đến chết, đừng chết khi còn đang sống”. - Paulus Lê Sơn “Tôi không có tội nên nhà cầm quyền Việt Nam muốn bỏ tù hay làm gì thì cứ tùy thích”. – Paul Minh Nhật “Tôi không làm bất cứ điều gì trái với lương tâm nên dù nhà cầm quyền có dùng nhục hình và bản án nặng nề để hại tôi thì chính quyền đang dẫm đạp lên đạo lý tốt đẹp ngàn đời của dân tộc Việt Nam và đó là chuyện của họ, họ phải tự chịu trách nhiệm”. – F.x Đặng Xuân Diệu “Chỉ có Chúa Kitô là niềm trông cậy và là Sự thật”.- JB. Nguyễn Văn Duyệt Phục cô gái trẻ Phương Uyên 1 thì em lại phục các anh chị 10, 13 năm tù giam, một thời gian dài hơn nữa tuổi đời hiện tại của em, cũng vì cái lý tưởng và tinh thần yêu quê hương đất nước mà các anh chị phải hy sinh cuộc sống và tương lại tươi sáng của mình để đấu tranh cho dân tộc, cho những người dân oan thấp cổ bé miệng bị cái gọi là chính quyền lợi dụng luật pháp, biến luật pháp thành luật rừng để cướp nhà lấy đất và bỏ tù nhân dân một cách trắng trợn. Nếu các anh chị là những con người vô tâm như bao người khác, mặc kể số phận của đất nước và những người dân oan vẫn ngày đêm kêu gào đòi lại đất thì giờ ở cái tuổi này, và với trình độ học vấn của các anh chị chắc cuộc sống của mỗi anh chị đã sung túc rồi. Không vô cảm trước thực trạng hiện tại của đất nước, luôn hy sinh phục vụ vì lợi ích và tương lai của đất nước, không khuất phục trước cái ác, sẵn sàng đem hết khả năng có được để đòi lại công lý cho dân oan, cho dân tốc… Các anh chị là những bông hoa luôn vươn cao giữa những bụi gai vô cảm của xã hội, là những tấm gương cho lớp trẻ chúng em noi theo. Một ngày nào đó, sẽ gần thôi, công lý sẽ chiến thắng điều ác trên đất nước Việt Nam, và các anh chị, nhưng bông hoa, những vị anh hùng thời đại của đất nước sẽ hoan hỷ với công lý trên nền hòa bình vĩ đại. Cái nắng gay gắt đến độ những người sức trẻ như em còn cảm thấy khó chịu thì những người già còn cực hơn biết dường nào. Nhìn thấy những người cha, người mẹ thân gầy gò ốm yếu vì lo cho những người con đang đấu tranh cho công lý, hai con mắt của họ ngày càng sâu hơn vì nỗi nhớ mong con ngày đêm, cảnh đời thật trớ trêu làm sao. Trong khi đang ngồi viết lá thư này thì lại đọc được tin anh Trần Hữu Đức đang bị hành hạ trong tù, chỉ với lí do là trong lần thăm nuôi ngày 26/07/2013, anh đã thông báo cho gia đình biết việc mình bị trại giam bắt ép nhận tội, liên tục bắt ăn cơm nguội và rau muống thiu, không cho nhận và gửi thư cho gia như pháp luật quy định, các hàng hóa tạp phẩm bán với giá quá cao. Để trả thù cho hành động đó của anh nên ban giám thị trại giam k3 Phú Sơn 4, Thái Nguyên đã còng tay, còng chân anh và biệt giam 9 ngày, ngoài ra bọn họ còn dùng 9 tù nhân khác để dàn dựng, vu khống anh vi phạm nội quy nhà tù, những hành động vô liêm sĩ chẳng khác nào loài cầm thú sống đã không có tình người lại còn không coi pháp luật nhà nước là gì. Xin được nhắc lại 17 thanh niên công giáo và tin lành bị bắt vào thánh 9 năm 2011 và bị nhà cầm quyền cộng sản quy tội vi phạm vào điều 79 của Bộ Luật Hình sự nước CHXHCN Việt Nam “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”, trong khi các anh chị là những người thuộc nhóm bảo vệ sự sống, nhóm doanh nhân trí thức tại Hà nội, câu lạc bộ giáo dục Vinh, ngoài ra còn tham gia cuộc tuần hành phản đối Trung Quốc, ký đơn yêu cầu trả tự do cho tiến sĩ luật cho Cù Huy Hà Vũ, và phản đối dự án khai thác Bauxite Tây Nguyên.




Đà Nẵng, ngày 18/08/2013

Jb Nguyễn Duy Khánh

Chút tâm tình gửi các anh chị đang chịu cảnh lao lý vì công lý và hòa bình cho đất nước.

Một mùa hè nữa sắp trôi qua, những tán lá của vườn cây xanh trong khuôn viên giáo xứ bắt đầu héo úa, tiếng ve râm ran của những buổi trưa hè ngày nào đó nay bắt đầu thưa thớt dần, cái nắng của những ngày cuối hè trở nên gay gắt đến khó chịu,… Không gian vắng lặng lại càng vắng hơn khi hình bóng các anh vẫn còn biệt tích trong chốn lao tù. Mùa hè sắp phải đóng sập cửa lại để nhường chỗ cho một mùa thu buồn tẻo với những cơn mưa dài tầm tả suốt ngày đêm. Những ngày này, thời tiết cuối hè đã oi bức lại càng nóng hơn khi được tin bạn Phương Uyên, một cô gái trẻ có tinh thần yêu nước mãnh liệt không chịu khuất phục trước cái ác nên đã phải ngồi trong chốn lao tù một cách vô lý và đã được tự do vào hôm phiên tòa phúc thẩm ngày 16/8. Người người khắp nơi vui mừng vì sự kiện này, cả thế giới như hướng về nữ anh hùng trẻ tuổi, ngồi một mình trong căn phòng nhỏ bé, lòng tôi cảm thấy nhói lên khi nhìn vào những bức hình và những câu nói đanh thép và kiên cường của các anh. “Hãy sống cho đến chết, đừng chết khi còn đang sống”. - Paulus Lê Sơn “Tôi không có tội nên nhà cầm quyền Việt Nam muốn bỏ tù hay làm gì thì cứ tùy thích”. – Paul Minh Nhật “Tôi không làm bất cứ điều gì trái với lương tâm nên dù nhà cầm quyền có dùng nhục hình và bản án nặng nề để hại tôi thì chính quyền đang dẫm đạp lên đạo lý tốt đẹp ngàn đời của dân tộc Việt Nam và đó là chuyện của họ, họ phải tự chịu trách nhiệm”. – F.x Đặng Xuân Diệu “Chỉ có Chúa Kitô là niềm trông cậy và là Sự thật”.- JB. Nguyễn Văn Duyệt Phục cô gái trẻ Phương Uyên 1 thì em lại phục các anh chị 10, 13 năm tù giam, một thời gian dài hơn nữa tuổi đời hiện tại của em, cũng vì cái lý tưởng và tinh thần yêu quê hương đất nước mà các anh chị phải hy sinh cuộc sống và tương lại tươi sáng của mình để đấu tranh cho dân tộc, cho những người dân oan thấp cổ bé miệng bị cái gọi là chính quyền lợi dụng luật pháp, biến luật pháp thành luật rừng để cướp nhà lấy đất và bỏ tù nhân dân một cách trắng trợn. Nếu các anh chị là những con người vô tâm như bao người khác, mặc kể số phận của đất nước và những người dân oan vẫn ngày đêm kêu gào đòi lại đất thì giờ ở cái tuổi này, và với trình độ học vấn của các anh chị chắc cuộc sống của mỗi anh chị đã sung túc rồi. Không vô cảm trước thực trạng hiện tại của đất nước, luôn hy sinh phục vụ vì lợi ích và tương lai của đất nước, không khuất phục trước cái ác, sẵn sàng đem hết khả năng có được để đòi lại công lý cho dân oan, cho dân tốc… Các anh chị là những bông hoa luôn vươn cao giữa những bụi gai vô cảm của xã hội, là những tấm gương cho lớp trẻ chúng em noi theo. Một ngày nào đó, sẽ gần thôi, công lý sẽ chiến thắng điều ác trên đất nước Việt Nam, và các anh chị, nhưng bông hoa, những vị anh hùng thời đại của đất nước sẽ hoan hỷ với công lý trên nền hòa bình vĩ đại. Cái nắng gay gắt đến độ những người sức trẻ như em còn cảm thấy khó chịu thì những người già còn cực hơn biết dường nào. Nhìn thấy những người cha, người mẹ thân gầy gò ốm yếu vì lo cho những người con đang đấu tranh cho công lý, hai con mắt của họ ngày càng sâu hơn vì nỗi nhớ mong con ngày đêm, cảnh đời thật trớ trêu làm sao. Trong khi đang ngồi viết lá thư này thì lại đọc được tin anh Trần Hữu Đức đang bị hành hạ trong tù, chỉ với lí do là trong lần thăm nuôi ngày 26/07/2013, anh đã thông báo cho gia đình biết việc mình bị trại giam bắt ép nhận tội, liên tục bắt ăn cơm nguội và rau muống thiu, không cho nhận và gửi thư cho gia như pháp luật quy định, các hàng hóa tạp phẩm bán với giá quá cao. Để trả thù cho hành động đó của anh nên ban giám thị trại giam k3 Phú Sơn 4, Thái Nguyên đã còng tay, còng chân anh và biệt giam 9 ngày, ngoài ra bọn họ còn dùng 9 tù nhân khác để dàn dựng, vu khống anh vi phạm nội quy nhà tù, những hành động vô liêm sĩ chẳng khác nào loài cầm thú sống đã không có tình người lại còn không coi pháp luật nhà nước là gì. Xin được nhắc lại 17 thanh niên công giáo và tin lành bị bắt vào thánh 9 năm 2011 và bị nhà cầm quyền cộng sản quy tội vi phạm vào điều 79 của Bộ Luật Hình sự nước CHXHCN Việt Nam “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”, trong khi các anh chị là những người thuộc nhóm bảo vệ sự sống, nhóm doanh nhân trí thức tại Hà nội, câu lạc bộ giáo dục Vinh, ngoài ra còn tham gia cuộc tuần hành phản đối Trung Quốc, ký đơn yêu cầu trả tự do cho tiến sĩ luật cho Cù Huy Hà Vũ, và phản đối dự án khai thác Bauxite Tây Nguyên.




Đà Nẵng, ngày 18/08/2013

Jb Nguyễn Duy Khánh

2 thg 5, 2013


Hãy cứ tiếp tục đi trên con đường ấy em nhé! Đó là điều mà anh muốn nói với em lúc này, và đó cũng là tất cả những gì mà anh có thể nói được với em. Với anh lúc này tất cả chỉ còn lại sự im lặng luôn bên anh, anh lại bị sự im lặng ấy ngự trị và lấy đi tất cả, và anh cũng đang dần chấp nhận tất cả mọi thứ ra đi trong im lặng, kể cả em…
Chính vì vậy em đừng quay đầu lại, đừng để sự im lặng kia theo gót mình, vì chỉ một người chờ đợi trong im lặng là đủ rồi.
Hướng về phía ấy, nơi mà em đi về, sẽ là nơi bắt đầu mới của em, nơi mà em cần tìm bấy lâu nay, cũng là nơi mà em thuộc về đấy. Còn phía sau lưng em, tất cả những sự hỗn độn mà cả hai người đã từng nếm trải, sẽ chỉ là quá khứ và kỉ niệm thôi. Vì vậy đừng luyến tiếc làm chi em nhé, mà hãy nhìn và đi về phía trước…
Phía trước con đường kia, vào một ngày nắng đẹp, em cất bước nhẹ ra đi trong một sự im lặng mà vô tình hay hữu ý chúng ta tạo ra, và để rồi cả hai không còn gì cho nhau nữa ngoài sự im lặng đáng sợ kia. Rồi anh cũng biết sẽ có ngày này, anh sẽ im lặng nhìn em dần xa anh như cuộc tình mình vậy. Em cứ đi đi em nhé…
Có khi nào em tự hỏi rằng vì sao lại có sự im lặng kia? Và có phải sự im lặng kia tạo ra một khoảng cách vô hình cho anh và em? Điều em muốn có như điều anh muốn? … Câu trả lời cho tất cả những câu hỏi kia lại cũng chỉ là sự im lặng. Vì anh hay em đều chưa từng hỏi nhau những điều đó. Nhưng anh biết được rằng, chúng ta đều mong được hỏi và được biết câu trả lời cho những điều đó, song tất cả ta đợi và dành cho nhau cũng chỉ là thế thôi…
Em ra đi, em đi vì những điều chúng ta không thể cho nhau duy chỉ trừ sự im lặng đó. Em hay anh ngày càng không thể hiểu được nhau có phải vì sự im lặng đó ngự trị và lớn dần. Vậy anh xin em một lần cuối, hãy để sự im lặng ấy lại cho anh và em hãy làm điều mình cần làm. Để anh sẽ mãi ngóng chờ như anh đã hứa trong im lặng, để trò chuyện với nỗi buồn trong im lặng, để gục đầu hay khóc thầm trong đêm vắng cũng với sự im lặng kia. Ngày ta quen nhau lần đầu, chúng ta cũng đều im lặng tìm hiểu nhau, và giờ đây khi em đi rồi, em cũng ra đi trong một sự im lặng…
Rời khỏi cuộc tình này, em vẫn còn nơi để đi, để hướng về một nơi khác mà em cần, còn anh thì nơi nào cho anh, nơi nào anh thuộc về, nơi nào để vơi đi nỗi buồn? Anh tự hỏi mình sẽ ra sao những ngày săp đến, khi mà người hiểu anh cần gì, người sẽ cho anh để vượt qua những nỗi đau trong quá khứ rồi lại rời xa anh… Đôi khi anh nhắm mắt lại và ước rằng mọi chuyện có thể quay lại từ đầu, nhưng không, đây là cuộc sống và phải biết chấp nhận nó. Phải chấp nhận và sống trong im lặng một cách mòn mỏi thế này là điều mà anh phải chấp nhận đúng không em. Dù rằng có đôi lần anh cố gắng gạt đi mọi vướng bận để có thể bắt đầu lại như những ngày xưa nhưng anh hiểu một điều rằng cả hai chúng ta đã chịu đựng những nỗi đau trong sự im lặng quá nhiều rồi em à. Đó cũng là lí do anh hiểu và tôn trọng quyết định của em…
Đoạn đường mà em đi ngày mai sẽ đầy nắng và thật đẹp với một cô gái tuổi đôi mươi mơ mộng như em. Và hãy vững bước trên con đường mình đã chọn, nơi cuối con đường kia sẽ là điều em muốn, là thứ mà bấy lâu nay em cần. Một bờ vai, một đôi tay khác sẽ dìu dắt và luôn bên cạnh em, chính vì thế đừng quay đầu lại em nhé. Hãy để lại cho anh những gì mà anh đã mang lại cho em và hướng về một nơi có những gì mà em đáng được nhận. Vì cuộc sống này hữu hạn nhưng điều đặc biệt mà em tìm kiếm – tình yêu thì vô cùng mà, hãy đi đến cuối con đường và tình yêu sẽ lại trở về với em mà…

Hãy Tiếp Tục Bước Đi, Em Nhé...


Hãy cứ tiếp tục đi trên con đường ấy em nhé! Đó là điều mà anh muốn nói với em lúc này, và đó cũng là tất cả những gì mà anh có thể nói được với em. Với anh lúc này tất cả chỉ còn lại sự im lặng luôn bên anh, anh lại bị sự im lặng ấy ngự trị và lấy đi tất cả, và anh cũng đang dần chấp nhận tất cả mọi thứ ra đi trong im lặng, kể cả em…
Chính vì vậy em đừng quay đầu lại, đừng để sự im lặng kia theo gót mình, vì chỉ một người chờ đợi trong im lặng là đủ rồi.
Hướng về phía ấy, nơi mà em đi về, sẽ là nơi bắt đầu mới của em, nơi mà em cần tìm bấy lâu nay, cũng là nơi mà em thuộc về đấy. Còn phía sau lưng em, tất cả những sự hỗn độn mà cả hai người đã từng nếm trải, sẽ chỉ là quá khứ và kỉ niệm thôi. Vì vậy đừng luyến tiếc làm chi em nhé, mà hãy nhìn và đi về phía trước…
Phía trước con đường kia, vào một ngày nắng đẹp, em cất bước nhẹ ra đi trong một sự im lặng mà vô tình hay hữu ý chúng ta tạo ra, và để rồi cả hai không còn gì cho nhau nữa ngoài sự im lặng đáng sợ kia. Rồi anh cũng biết sẽ có ngày này, anh sẽ im lặng nhìn em dần xa anh như cuộc tình mình vậy. Em cứ đi đi em nhé…
Có khi nào em tự hỏi rằng vì sao lại có sự im lặng kia? Và có phải sự im lặng kia tạo ra một khoảng cách vô hình cho anh và em? Điều em muốn có như điều anh muốn? … Câu trả lời cho tất cả những câu hỏi kia lại cũng chỉ là sự im lặng. Vì anh hay em đều chưa từng hỏi nhau những điều đó. Nhưng anh biết được rằng, chúng ta đều mong được hỏi và được biết câu trả lời cho những điều đó, song tất cả ta đợi và dành cho nhau cũng chỉ là thế thôi…
Em ra đi, em đi vì những điều chúng ta không thể cho nhau duy chỉ trừ sự im lặng đó. Em hay anh ngày càng không thể hiểu được nhau có phải vì sự im lặng đó ngự trị và lớn dần. Vậy anh xin em một lần cuối, hãy để sự im lặng ấy lại cho anh và em hãy làm điều mình cần làm. Để anh sẽ mãi ngóng chờ như anh đã hứa trong im lặng, để trò chuyện với nỗi buồn trong im lặng, để gục đầu hay khóc thầm trong đêm vắng cũng với sự im lặng kia. Ngày ta quen nhau lần đầu, chúng ta cũng đều im lặng tìm hiểu nhau, và giờ đây khi em đi rồi, em cũng ra đi trong một sự im lặng…
Rời khỏi cuộc tình này, em vẫn còn nơi để đi, để hướng về một nơi khác mà em cần, còn anh thì nơi nào cho anh, nơi nào anh thuộc về, nơi nào để vơi đi nỗi buồn? Anh tự hỏi mình sẽ ra sao những ngày săp đến, khi mà người hiểu anh cần gì, người sẽ cho anh để vượt qua những nỗi đau trong quá khứ rồi lại rời xa anh… Đôi khi anh nhắm mắt lại và ước rằng mọi chuyện có thể quay lại từ đầu, nhưng không, đây là cuộc sống và phải biết chấp nhận nó. Phải chấp nhận và sống trong im lặng một cách mòn mỏi thế này là điều mà anh phải chấp nhận đúng không em. Dù rằng có đôi lần anh cố gắng gạt đi mọi vướng bận để có thể bắt đầu lại như những ngày xưa nhưng anh hiểu một điều rằng cả hai chúng ta đã chịu đựng những nỗi đau trong sự im lặng quá nhiều rồi em à. Đó cũng là lí do anh hiểu và tôn trọng quyết định của em…
Đoạn đường mà em đi ngày mai sẽ đầy nắng và thật đẹp với một cô gái tuổi đôi mươi mơ mộng như em. Và hãy vững bước trên con đường mình đã chọn, nơi cuối con đường kia sẽ là điều em muốn, là thứ mà bấy lâu nay em cần. Một bờ vai, một đôi tay khác sẽ dìu dắt và luôn bên cạnh em, chính vì thế đừng quay đầu lại em nhé. Hãy để lại cho anh những gì mà anh đã mang lại cho em và hướng về một nơi có những gì mà em đáng được nhận. Vì cuộc sống này hữu hạn nhưng điều đặc biệt mà em tìm kiếm – tình yêu thì vô cùng mà, hãy đi đến cuối con đường và tình yêu sẽ lại trở về với em mà…

23 thg 4, 2013



 

Còn gặp nhau…

Còn gặp nhau thì hãy cứ vui
Chuyện đời như nước chảy hoa trôi,
Lợi danh như bóng mây chìm nổi
Chỉ có tình thương để lại đời.

Còn gặp nhau thì hãy cứ thương
Tình người muôn thuở vẫn còn vương,
Chắt chiu một chút tình thương ấy
Gửi khắp muôn phương vạn nẻo đường.

Còn gặp nhau thì hãy cứ chơi
Bao nhiêu thú vị ở trên đời,
Vui chơi trong ý tình cao nhã
Cuộc sống càng thêm nét tuyệt vời.

Còn gặp nhau thì hãy cứ cười
Cho tình thêm thắm, ý thêm tươi
Cho hương thêm ngát, đời thêm vị
Cho đẹp lòng tất cả mọi người.

Còn gặp nhau thì hãy cứ chào
Giữa miền đất rộng với trời cao,
Vui câu nhân nghĩa, tròn sau trước
Lấy chữ chân tình gửi tặng nhau.

Còn gặp nhau thì hãy cứ say
Say tình, say nghĩa bấy lâu nay
Say thơ, say nhạc, say bè bạn
Quên cả không gian lẫn tháng ngày.

Còn gặp nhau thì hãy cứ đi
Đi tìm chân lý – lẽ huyền vi
An nhiên tự tại – lòng thanh thản
Đời sống tâm linh thật diệu kỳ.
Tác giả bài viết: Tôn Nữ Hỷ Khương

Sưu Tầm

Còn gặp nhau… thì hãy cứ vui



 

Còn gặp nhau…

Còn gặp nhau thì hãy cứ vui
Chuyện đời như nước chảy hoa trôi,
Lợi danh như bóng mây chìm nổi
Chỉ có tình thương để lại đời.

Còn gặp nhau thì hãy cứ thương
Tình người muôn thuở vẫn còn vương,
Chắt chiu một chút tình thương ấy
Gửi khắp muôn phương vạn nẻo đường.

Còn gặp nhau thì hãy cứ chơi
Bao nhiêu thú vị ở trên đời,
Vui chơi trong ý tình cao nhã
Cuộc sống càng thêm nét tuyệt vời.

Còn gặp nhau thì hãy cứ cười
Cho tình thêm thắm, ý thêm tươi
Cho hương thêm ngát, đời thêm vị
Cho đẹp lòng tất cả mọi người.

Còn gặp nhau thì hãy cứ chào
Giữa miền đất rộng với trời cao,
Vui câu nhân nghĩa, tròn sau trước
Lấy chữ chân tình gửi tặng nhau.

Còn gặp nhau thì hãy cứ say
Say tình, say nghĩa bấy lâu nay
Say thơ, say nhạc, say bè bạn
Quên cả không gian lẫn tháng ngày.

Còn gặp nhau thì hãy cứ đi
Đi tìm chân lý – lẽ huyền vi
An nhiên tự tại – lòng thanh thản
Đời sống tâm linh thật diệu kỳ.
Tác giả bài viết: Tôn Nữ Hỷ Khương

Sưu Tầm

12 thg 4, 2013



Chơi Tết mồng ba tháng ba là “phong tục cổ của An Nam từ xưa” 

Nhân dân ta từ rất xa xưa có tục ăn tết Mồng ba tháng ba. Trong ngày tết ấy người dân không nhóm lửa, chỉ ăn đồ nguội, vì thế Tết mồng ba tháng ba còn gọi là “Tết hàn thực” (Tết ăn đồ nguội). Ngày nay tục lệ ấy vẫn thịnh hành. Giải thích về tục lệ này, nhiều người đều cho là bắt nguồn từ Trung Quốc, gắn với câu chuyện về cái chết thương tâm của Giới Chi Thôi.

Tích truyện kể rằng Tấn Văn Công trong những ngày gian khổ mưu cầu sự nghiệp bá vương, có lúc bị đói, Giới Chi Thôi đã cắt thịt đùi mình dâng ông ăn. Sau khi thành công, khen thưởng, Tấn văn Công quên Giới Chi Thôi, Giới buồn hận bỏ đi. Sau Văn Công nhớ ra triệu vời nhưng Giới không đến, trốn vào rừng. Tìm gọi mãi không được, Tấn Văn Công sai đốt rừng để Giới phải chạy ra; nhưng Giới Chi Thôi ôm cây chịu chết cháy chứ nhất định không tha thứ cho vị quân chủ mà Giới cho là vô tình. Tấn Văn Công sửa lỗi, nhưng lỗi lại chồng thêm lỗi nên hối hận, từ đó sai lệnh cấm lửa trong ngày này (mồng 3 thấng 3) để tưởng nhớ người bề tôi trung thành mà ông vì vô tâm đã bỏ quên. Cho đến ngày nay, chắc chắn chúng ta cũng đinh ninh nguồn gốc của ngày tết này là như thế.

Nhưng cách đây đúng 720 năm, Trần Nhân Tông (1258 – 1308) đã nói rõ đó là “phong tục cổ của An Nam từ xưa”. Ông khẳng định điều đó trong một bài thơ kèm theo mâm bánh biếu sứ giả nhà Nguyên Trương Hiển Khanh (tên là Lập Đạo) sang Việt nam năm 1292. Bài thơ như sau:

                                    Giá chi vũ bãi thí xuân sam,
                                    Huống trị kim triêu tam nguyệt tam.
                                    Hồng ngọc đôi bàn xuân thái bính,
                                    Tòng lai phong tục cựu An Nam.
                                    (Múa giá chi rồi, thử áo xuân
                                    Hôm nay Hàn thực, buổi thanh thần
                                    Bánh rau tinh khiết đầy mâm ngọc
                                    Phong tục An Nam theo cổ nhân.)
                                                Biếu Trương Hiển Khanh bánh xuân
                                                                                    (Trần Lê Văn dịch)

Bài thơ giọng điệu trang nhã, vừa rất ân cần với khách vừa ý tứ sâu xa. 

Trước hết hãy nói về Trương Hiển Khanh. Người Việt nam chắc ai cũng nhớ, vào năm 1288 nước ta vừa “đại phá” cuộc xâm lược của nhà Nguyên lần thứ ba. Vua Nguyên (Hốt Tất Liệt) vốn rất hận, đã tập trung lực lượng chuẩn bị đánh lần thứ tư vào năm 1294. Trương Hiển Khanh là Thượng thư bộ Lễ của Nguyên triều sang Việt Nam có nhiệm vụ “dụ” vua Trần phải thực tâm thần phục, sang triều kiến vua Nguyên và chịu làm theo mọi điều kiện nhà Nguyên áp đặt, nếu không thiên triều sẽ “trừng phạt”. Có thể Trương Hiển Khanh cũng còn một nhiệm vụ nữa là quan sát xem nước Việt sau năm năm với hai cuộc chiến khốc liệt, thế và lực ra sao. Vua tôi nhà Trần hiểu rất rõ điiều đó, cho nên cuộc tiếp sứ lần này thực chất là một cuộc đấu tranh ngoại giao gai góc chứ không phải là cuộc thăm hỏi xã giao. Nhưng Trần Nhân tông hết sức chủ động, nhà vua chủ trương “hóa giải” tình hình đó, trước hết với vị sứ thần có địa vị cao trong Nguyên triều và chắc chắn có học vấn. Vua tiếp sứ giả ở Điện Tập hiền với phong cách rất thân mật, chủ tâm theo phong tục An Nam: đặt tiệc mời toàn hải sản, trong lúc trò chuyện thỉnh thoảng lại mời ăn trầu, thậm chí còn mời vào trong trướng “ngồi xuống đất”. Trong cả chuỗi sự kiện tiếp đãi với tinh thần khẳng định bản lĩnh dân tộc đó, vua Nhân Tông trong ngày tết Mồng ba tháng Ba đã biếu Trương Hiển Khanh một mâm bánh với bài thơ trên. Các vua nhà Trần là những người có học, chắc chắn nhà vua biết rõ câu chuyện Giới Chi Thôi, nhưng với căn cứ gì vua Nhân Tông khẳng định đó là “phong tục cổ An Nam từ trước tới nay”? Trần Nhân Tông không ghi chú rõ, nhưng gần đây tìm hiểu ý tứ của bài thơ này, chúng tôi đã thấy một căn cứ. Nguyên là theo sách Kinh Sở tuế thời ký thì ngày thứ 105 trong tiết đông, thường có mưa to gió lớn, gọi là tiết Hàn thực, người ta cấm lửa trong 3 ngày; Lời chú của sách này nói: Theo lịch thì tiết ấy vào khoảng trước thanh minh 2 ngày, cách ngày đông chí 106 ngày. Một sách “biệt lục” của Lưu Hướng cũng nói tiết Hàn thực có từ đời Chu; tiết này được gắn với truyện Giới Chi Thôi là từ thời Hậu Hán. Cũng sách này còn ghi người bản địa “thổ nhân” trong ngày 3 tháng ba còn ra bến sông, thả chén chỗ sông quanh vui uống rượu. Như vậy có thể nói ngày 3 tháng ba là một lễ hội của cư dân nông nghiệp phía nam, từ vùng Kinh Sở trở xuống (mà Việt Nam ngày nay xa xưa cũng là một trong Bách Việt. Bách Việt khác Hán tộc). Vì thế Nhân Tông mới nhấn mạnh đây là “phong tục cổ của An Nam”. Cũng có thể còn thêm một căn cứ nữa là nếu cứ theo tích Giới Chi Thôi thì tết mồng ba tháng ba là một cái tết buồn, nhưng trái lại với Việt Nam đây là một lễ hội vui, có múa hát, có mặc áo mới và ăn một thứ bánh có rau, tinh khiết như “hồng ngọc” mà vua gọi là “bánh xuân”. Bài thơ hai mươi tám chữ tặng Trương Hiển Khanh của Trần Nhân Tông quả là có một chiều sâu tư tưởng, một vẻ đẹp nhân văn rất đáng để hậu thế chiêm ngưỡng và suy ngẫm. 

Sau những động thái trong cuộc tiếp sứ của vua tôi nhà Trần, Nguyên sứ Trương Hiển Khanh đã không thể tuyên dụ được những chỉ dụ của vua Nguyên trong cuộc đối thoại mà đành viết lại thành văn bản trao sau. Và lúc đó thì “thiên sứ” đã lên đường về nước. Quả là sau khi tiếp xúc với Trần Nhân Tông, Trương Hiển Khanh đã có một cách nhìn, cách nghĩ khác về An Nam. Khi về, ông đã viết trong một bài ký: “Vua An Nam tiếp chuyện vui vẻ luôn luôn làm thơ tặng thiên sứ. Lập Đạo tức thì làm thơ đáp lại. Tiệc gần xong, mời Lập Đạo vào trong trướng, đều ngồi trên đất”. Với quan sát của Lập Đạo bây giờ “An Nam là nước nhỏ, nhưng có văn chương, không thể nói bừa họ là ếch ngồi đáy giếng”. Và ông thể hiện suy nghĩ đó trong một bài thơ với nhiều cảm tình:
.
                                                Dao vọng thương yên toả mộ hà,
                                                Thị triều nhân viễn cách yên hoa.
                                                Cô hư đình viện vô đa sở,
                                                Thịnh mậu viên lâm chỉ nhất gia.
                                                Nam chú hùng tân Thiên Hán thuỷ,
                                                Đông khai cao thụ mộc miên hoa.
                                                An Nam tuy tiểu văn chương tại,
                                                Vị khả khinh đàm tỉnh để oa.
.
Bản dịch An Nam chí lược:
.
                                                Ngắm cảnh chiều hôm khói mịt mờ,
                                                Xa nơi thành thị đỡ huyên hoa.
                                                Quạnh hiu đình viện không nhiều sở,
                                                Tươi tốt vườn cây chỉ một nhà.
                                                Thiên Hán bến Nam tuôn mạch nước,
                                                Mộc miên cây lớn trổ cành hoa.
                                                An Nam tuy nhỏ văn chương thịnh,
                                                “Ếch giếng”, khuyên đừng chế giễu ngoa.
.
Thực ra những ngày tết lễ, những phong tục tốt đẹp được hình thành là sáng tạo văn hóa của nhân loại. Nếu người ta thấy hay, thấy đẹp thì học theo, cũng chẳng có điều gì phải ngần ngại; cũng như giới trẻ ngày nay đã rất thích ngày Tết tình yêu 14 – 2, hay mọi người đều rất thích tục tặng quà cho con trẻ trong Đêm Chúa giáng sinh 25 – 12 ... Có điều tìm đến gốc gác một phong tục để biết thêm vẻ đẹp nhân văn của nó cũng là một việc rất nên biết. Huống nữa trả lại cái ý nghĩa sâu xa vui vẻ và đầy sức sống như thế cho ngày tết mồng 3 tháng Ba cổ truyền của người Việt lại càng là một việc rất nên làm.
_______________
Những tư liệu viết bài này lấy từ các sách: Đại Việt sử ký toàn thư, NXB Khoa học xã hội in năm 1985 và An Nam chí lược, bản dịch, Tài liệu tham khảo của Thư viện văn học và Bản dịch, NXB Thuận Hóa – Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, in năm 2002, Từ nguyên, Thương vụ ấn thư quán (Trung Quốc) xuất bản năm 1947.
Nguồn: Văn hóa Nghệ An.
* Tác giả Trần Thị Băng Thanh là PGS.TS, công tác tại Viện Văn học, đã nghỉ hưu.

Phong tục cổ Việt Nam: CHƠI TẾT MÙNG BA THÁNG BA



Chơi Tết mồng ba tháng ba là “phong tục cổ của An Nam từ xưa” 

Nhân dân ta từ rất xa xưa có tục ăn tết Mồng ba tháng ba. Trong ngày tết ấy người dân không nhóm lửa, chỉ ăn đồ nguội, vì thế Tết mồng ba tháng ba còn gọi là “Tết hàn thực” (Tết ăn đồ nguội). Ngày nay tục lệ ấy vẫn thịnh hành. Giải thích về tục lệ này, nhiều người đều cho là bắt nguồn từ Trung Quốc, gắn với câu chuyện về cái chết thương tâm của Giới Chi Thôi.

Tích truyện kể rằng Tấn Văn Công trong những ngày gian khổ mưu cầu sự nghiệp bá vương, có lúc bị đói, Giới Chi Thôi đã cắt thịt đùi mình dâng ông ăn. Sau khi thành công, khen thưởng, Tấn văn Công quên Giới Chi Thôi, Giới buồn hận bỏ đi. Sau Văn Công nhớ ra triệu vời nhưng Giới không đến, trốn vào rừng. Tìm gọi mãi không được, Tấn Văn Công sai đốt rừng để Giới phải chạy ra; nhưng Giới Chi Thôi ôm cây chịu chết cháy chứ nhất định không tha thứ cho vị quân chủ mà Giới cho là vô tình. Tấn Văn Công sửa lỗi, nhưng lỗi lại chồng thêm lỗi nên hối hận, từ đó sai lệnh cấm lửa trong ngày này (mồng 3 thấng 3) để tưởng nhớ người bề tôi trung thành mà ông vì vô tâm đã bỏ quên. Cho đến ngày nay, chắc chắn chúng ta cũng đinh ninh nguồn gốc của ngày tết này là như thế.

Nhưng cách đây đúng 720 năm, Trần Nhân Tông (1258 – 1308) đã nói rõ đó là “phong tục cổ của An Nam từ xưa”. Ông khẳng định điều đó trong một bài thơ kèm theo mâm bánh biếu sứ giả nhà Nguyên Trương Hiển Khanh (tên là Lập Đạo) sang Việt nam năm 1292. Bài thơ như sau:

                                    Giá chi vũ bãi thí xuân sam,
                                    Huống trị kim triêu tam nguyệt tam.
                                    Hồng ngọc đôi bàn xuân thái bính,
                                    Tòng lai phong tục cựu An Nam.
                                    (Múa giá chi rồi, thử áo xuân
                                    Hôm nay Hàn thực, buổi thanh thần
                                    Bánh rau tinh khiết đầy mâm ngọc
                                    Phong tục An Nam theo cổ nhân.)
                                                Biếu Trương Hiển Khanh bánh xuân
                                                                                    (Trần Lê Văn dịch)

Bài thơ giọng điệu trang nhã, vừa rất ân cần với khách vừa ý tứ sâu xa. 

Trước hết hãy nói về Trương Hiển Khanh. Người Việt nam chắc ai cũng nhớ, vào năm 1288 nước ta vừa “đại phá” cuộc xâm lược của nhà Nguyên lần thứ ba. Vua Nguyên (Hốt Tất Liệt) vốn rất hận, đã tập trung lực lượng chuẩn bị đánh lần thứ tư vào năm 1294. Trương Hiển Khanh là Thượng thư bộ Lễ của Nguyên triều sang Việt Nam có nhiệm vụ “dụ” vua Trần phải thực tâm thần phục, sang triều kiến vua Nguyên và chịu làm theo mọi điều kiện nhà Nguyên áp đặt, nếu không thiên triều sẽ “trừng phạt”. Có thể Trương Hiển Khanh cũng còn một nhiệm vụ nữa là quan sát xem nước Việt sau năm năm với hai cuộc chiến khốc liệt, thế và lực ra sao. Vua tôi nhà Trần hiểu rất rõ điiều đó, cho nên cuộc tiếp sứ lần này thực chất là một cuộc đấu tranh ngoại giao gai góc chứ không phải là cuộc thăm hỏi xã giao. Nhưng Trần Nhân tông hết sức chủ động, nhà vua chủ trương “hóa giải” tình hình đó, trước hết với vị sứ thần có địa vị cao trong Nguyên triều và chắc chắn có học vấn. Vua tiếp sứ giả ở Điện Tập hiền với phong cách rất thân mật, chủ tâm theo phong tục An Nam: đặt tiệc mời toàn hải sản, trong lúc trò chuyện thỉnh thoảng lại mời ăn trầu, thậm chí còn mời vào trong trướng “ngồi xuống đất”. Trong cả chuỗi sự kiện tiếp đãi với tinh thần khẳng định bản lĩnh dân tộc đó, vua Nhân Tông trong ngày tết Mồng ba tháng Ba đã biếu Trương Hiển Khanh một mâm bánh với bài thơ trên. Các vua nhà Trần là những người có học, chắc chắn nhà vua biết rõ câu chuyện Giới Chi Thôi, nhưng với căn cứ gì vua Nhân Tông khẳng định đó là “phong tục cổ An Nam từ trước tới nay”? Trần Nhân Tông không ghi chú rõ, nhưng gần đây tìm hiểu ý tứ của bài thơ này, chúng tôi đã thấy một căn cứ. Nguyên là theo sách Kinh Sở tuế thời ký thì ngày thứ 105 trong tiết đông, thường có mưa to gió lớn, gọi là tiết Hàn thực, người ta cấm lửa trong 3 ngày; Lời chú của sách này nói: Theo lịch thì tiết ấy vào khoảng trước thanh minh 2 ngày, cách ngày đông chí 106 ngày. Một sách “biệt lục” của Lưu Hướng cũng nói tiết Hàn thực có từ đời Chu; tiết này được gắn với truyện Giới Chi Thôi là từ thời Hậu Hán. Cũng sách này còn ghi người bản địa “thổ nhân” trong ngày 3 tháng ba còn ra bến sông, thả chén chỗ sông quanh vui uống rượu. Như vậy có thể nói ngày 3 tháng ba là một lễ hội của cư dân nông nghiệp phía nam, từ vùng Kinh Sở trở xuống (mà Việt Nam ngày nay xa xưa cũng là một trong Bách Việt. Bách Việt khác Hán tộc). Vì thế Nhân Tông mới nhấn mạnh đây là “phong tục cổ của An Nam”. Cũng có thể còn thêm một căn cứ nữa là nếu cứ theo tích Giới Chi Thôi thì tết mồng ba tháng ba là một cái tết buồn, nhưng trái lại với Việt Nam đây là một lễ hội vui, có múa hát, có mặc áo mới và ăn một thứ bánh có rau, tinh khiết như “hồng ngọc” mà vua gọi là “bánh xuân”. Bài thơ hai mươi tám chữ tặng Trương Hiển Khanh của Trần Nhân Tông quả là có một chiều sâu tư tưởng, một vẻ đẹp nhân văn rất đáng để hậu thế chiêm ngưỡng và suy ngẫm. 

Sau những động thái trong cuộc tiếp sứ của vua tôi nhà Trần, Nguyên sứ Trương Hiển Khanh đã không thể tuyên dụ được những chỉ dụ của vua Nguyên trong cuộc đối thoại mà đành viết lại thành văn bản trao sau. Và lúc đó thì “thiên sứ” đã lên đường về nước. Quả là sau khi tiếp xúc với Trần Nhân Tông, Trương Hiển Khanh đã có một cách nhìn, cách nghĩ khác về An Nam. Khi về, ông đã viết trong một bài ký: “Vua An Nam tiếp chuyện vui vẻ luôn luôn làm thơ tặng thiên sứ. Lập Đạo tức thì làm thơ đáp lại. Tiệc gần xong, mời Lập Đạo vào trong trướng, đều ngồi trên đất”. Với quan sát của Lập Đạo bây giờ “An Nam là nước nhỏ, nhưng có văn chương, không thể nói bừa họ là ếch ngồi đáy giếng”. Và ông thể hiện suy nghĩ đó trong một bài thơ với nhiều cảm tình:
.
                                                Dao vọng thương yên toả mộ hà,
                                                Thị triều nhân viễn cách yên hoa.
                                                Cô hư đình viện vô đa sở,
                                                Thịnh mậu viên lâm chỉ nhất gia.
                                                Nam chú hùng tân Thiên Hán thuỷ,
                                                Đông khai cao thụ mộc miên hoa.
                                                An Nam tuy tiểu văn chương tại,
                                                Vị khả khinh đàm tỉnh để oa.
.
Bản dịch An Nam chí lược:
.
                                                Ngắm cảnh chiều hôm khói mịt mờ,
                                                Xa nơi thành thị đỡ huyên hoa.
                                                Quạnh hiu đình viện không nhiều sở,
                                                Tươi tốt vườn cây chỉ một nhà.
                                                Thiên Hán bến Nam tuôn mạch nước,
                                                Mộc miên cây lớn trổ cành hoa.
                                                An Nam tuy nhỏ văn chương thịnh,
                                                “Ếch giếng”, khuyên đừng chế giễu ngoa.
.
Thực ra những ngày tết lễ, những phong tục tốt đẹp được hình thành là sáng tạo văn hóa của nhân loại. Nếu người ta thấy hay, thấy đẹp thì học theo, cũng chẳng có điều gì phải ngần ngại; cũng như giới trẻ ngày nay đã rất thích ngày Tết tình yêu 14 – 2, hay mọi người đều rất thích tục tặng quà cho con trẻ trong Đêm Chúa giáng sinh 25 – 12 ... Có điều tìm đến gốc gác một phong tục để biết thêm vẻ đẹp nhân văn của nó cũng là một việc rất nên biết. Huống nữa trả lại cái ý nghĩa sâu xa vui vẻ và đầy sức sống như thế cho ngày tết mồng 3 tháng Ba cổ truyền của người Việt lại càng là một việc rất nên làm.
_______________
Những tư liệu viết bài này lấy từ các sách: Đại Việt sử ký toàn thư, NXB Khoa học xã hội in năm 1985 và An Nam chí lược, bản dịch, Tài liệu tham khảo của Thư viện văn học và Bản dịch, NXB Thuận Hóa – Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, in năm 2002, Từ nguyên, Thương vụ ấn thư quán (Trung Quốc) xuất bản năm 1947.
Nguồn: Văn hóa Nghệ An.
* Tác giả Trần Thị Băng Thanh là PGS.TS, công tác tại Viện Văn học, đã nghỉ hưu.

11 thg 4, 2013

Hình ảnh minh họa
Không phải là những điều gì khác, mà chính là những tấm lòng nhân hậu đã tạo ra sự bình yên tiến bộ và hạnh phúc... 
Cô Giáo Và Cậu Học Trò Lớp Năm 
Vào ngày khai giảng năm học mới, cô đứng trước những em học sinh lớp 5, nhìn cả lớp và nói cô sẽ yêu thương tất cả các học sinh như nhau. 
Nhưng thực ra cô biết mình sẽ không làm được điều đó bởi cô đã nhìn thấy cậu học sinh Teddy Stoddard ngồi lù lù ngay bàn đầu. Năm ngoái cô đã từng biết Teddy và thấy cậu bé chơi không đẹp với bạn bè, quần áo thì lôi thôi lếch thếch, còn người ngợm thì lại quá bẩn thỉu. "Teddy trông thật khó ưa".
Chẳng những thế, cô Thompson còn dùng cây bút đỏ vạch một chữ thập rõ đậm vào hồ sơ cá nhân của Teddy và ghi chữ F đỏ chói ngay phía ngoài (chữ F là hạng kém).
Ở trường này, vào đầu năm học mỗi giáo viên đều phải xem thành tích học tập của từng học sinh trong lớp mình chủ nhiệm. Cô Thompson đã nhét hồ sơ cá nhân của Teddy đến cuối cùng mới mở ra xem, và cô rất ngạc nhiên về những điều đọc được.
Cô giáo phụ trách lớp 1 đã nhận xét Teddy như sau: "Teddy là một đứa trẻ thông minh và luôn vui vẻ. Học giỏi và chăm ngoan... Em là nguồn vui cho người chung quanh".
Cô giáo lớp 2 nhận xét: "Teddy là một học sinh xuất sắc, được bạn bè yêu quý nhưng có chút vấn đề vì mẹ em ốm nặng và cuộc sống gia đình thật sự là một cuộc chiến đấu".
Giáo viên lớp 3 ghi: "Cái chết của người mẹ đã tác động mạnh đến Teddy. Em đã cố gắng học, nhưng cha em không mấy quan tâm đến con cái và đời sống gia đình sẽ ảnh hưởng đến em nếu em không được giúp đỡ".
Giáo viên chủ nhiệm lớp 5 nhận xét: "Teddy tỏ ra lãnh đạm và không tỏ ra thích thú trong học tập. Em không có nhiều bạn và thỉnh thoảng ngủ gục trong lớp".
Đọc đến đây, cô Thompson chợt hiểu ra vấn đề và cảm thấy tự hổ thẹn. Cô còn thấy áy náy hơn khi đến lễ Giáng sinh, tất cả học sinh trong lớp đem tặng cô những món quà gói giấy màu và gắn nơ thật đẹp, ngoại trừ món quà của Teddy. Em đem tặng cô một gói quà bọc vụng về bằng loại giấy gói hàng nâu xạm màu mà em tận dụng lại từ loại túi giấy gói hàng của tiệm tạp hóa.
Cô Thompson cảm thấy đau lòng khi mở gói quà ấy ra trước mặt cả lớp. Một vài học sinh đã bật cười khi thấy cô giơ lên
chiếc vòng giả kim cương cũ đã sút mất vài hột đá và một chai nước hoa chỉ còn lại một ít. Nhưng cô đã dập tắt những tiếng cười nhạo kia khi cô khen chiếc vòng đẹp, đeo nó vào tay và xịt một ít nước hoa trong chai lên cổ tay. Hôm đó Teddy đã nán lại cho đến cuối giờ để nói với cô: "Thưa cô, hôm nay cô thơm như mẹ em ngày xưa".
Sau khi đứa bé ra về, cô Thompson đã ngồi khóc cả giờ đồng hồ.
Và chính từ hôm đó, ngoài dạy học cô còn lưu tâm chăm sóc cho Teddy hơn trước. Mỗi khi cô đến bàn em để hướng dẫn thêm, tinh thần Teddy dường như phấn chấn hẳn lên. Cô càng động viên em càng tiến bộ nhanh. Vào cuối năm học, Teddy đã trở thành học sinh giỏi nhất lớp. Và trái với phát biểu của mình vào đầu năm học, đã không yêu thương mọi học sinh như nhau. Teddy là học trò cưng nhất của cô.
Một năm sau, cô tìm thấy một mẩu giấy nhét qua khe cửa. Teddy viết: "Cô là cô giáo tuyệt vời nhất trong đời em".
Sáu năm sau, cô lại nhận được một bức thư ngắn từ Teddy. Cậu cho biết đã tốt nghiệp trung học, đứng hạng ba trong lớp và "Cô vẫn là người thầy tuyệt vời nhất trong đời em".
Bốn năm sau, cô lại nhận được một lá thư nữa. Teddy cho biết dù hoàn cảnh rất khó khăn khiến cho cậu có lúc cảm thấy bế tắc, cậu vẫn quyết tốt nghiệp đại học với hạng xuất sắc nhất, nhưng "Cô vẫn luôn là cô giáo tuyệt vời mà em yêu quý nhất trong đời".
Rồi bốn năm sau nữa cô nhận được bức thư trong đó Teddy báo tin cho biết cậu đã đậu tiến sĩ và quyết định học thêm lên. "Cô vẫn là người thầy tuyệt nhất của đời em", nhưng lúc này tên cậu đã dài hơn. Bức thư ký tên Theodore F.Stoddard - giáo sư tiến sĩ.
Câu chuyện vẫn chưa kết thúc tại đây. Một bức thư nữa được gửi đến nhà cô Thompson. Teddy kể cậu đã gặp một cô gái và cậu sẽ cưới cô ta. Cậu giải thích vì cha cậu đã mất cách đây vài năm nên cậu mong cô Thompson sẽ đến dự lễ cưới và ngồi ở vị trí vốn thường được dành cho mẹ chú rể.
Và bạn thử đoán xem việc gì đã xảy ra? Ngày đó, cô đeo chiếc vòng kim cương giả bị rớt hột mà Teddy đã tặng cô năm xưa, xức thứ nước hoa mà Teddy nói mẹ cậu đã dùng vào kỳ Giáng sinh cuối cùng trước lúc bà mất.
Họ ôm nhau mừng rỡ và giáo sư Stoddard thì thầm vào tai cô Thompson: "Cám ơn cô đã tin tưởng em. Cám ơn cô rất nhiều vì đã làm cho em cảm thấy mình quan trọng và cho em niềm tin rằng mình sẽ tiến bộ".
Cô Thompson vừa khóc vừa nói nhỏ với cậu:
"Teddy, em nói sai rồi. Chính em mới là người đã dạy cô rằng cô có thể sống khác đi. Cô chỉ biết thế nào là dạy học kể từ khi cô được gặp em".

Cô Giáo Và Cậu Học Trò Lớp Năm

Hình ảnh minh họa
Không phải là những điều gì khác, mà chính là những tấm lòng nhân hậu đã tạo ra sự bình yên tiến bộ và hạnh phúc... 
Cô Giáo Và Cậu Học Trò Lớp Năm 
Vào ngày khai giảng năm học mới, cô đứng trước những em học sinh lớp 5, nhìn cả lớp và nói cô sẽ yêu thương tất cả các học sinh như nhau. 
Nhưng thực ra cô biết mình sẽ không làm được điều đó bởi cô đã nhìn thấy cậu học sinh Teddy Stoddard ngồi lù lù ngay bàn đầu. Năm ngoái cô đã từng biết Teddy và thấy cậu bé chơi không đẹp với bạn bè, quần áo thì lôi thôi lếch thếch, còn người ngợm thì lại quá bẩn thỉu. "Teddy trông thật khó ưa".
Chẳng những thế, cô Thompson còn dùng cây bút đỏ vạch một chữ thập rõ đậm vào hồ sơ cá nhân của Teddy và ghi chữ F đỏ chói ngay phía ngoài (chữ F là hạng kém).
Ở trường này, vào đầu năm học mỗi giáo viên đều phải xem thành tích học tập của từng học sinh trong lớp mình chủ nhiệm. Cô Thompson đã nhét hồ sơ cá nhân của Teddy đến cuối cùng mới mở ra xem, và cô rất ngạc nhiên về những điều đọc được.
Cô giáo phụ trách lớp 1 đã nhận xét Teddy như sau: "Teddy là một đứa trẻ thông minh và luôn vui vẻ. Học giỏi và chăm ngoan... Em là nguồn vui cho người chung quanh".
Cô giáo lớp 2 nhận xét: "Teddy là một học sinh xuất sắc, được bạn bè yêu quý nhưng có chút vấn đề vì mẹ em ốm nặng và cuộc sống gia đình thật sự là một cuộc chiến đấu".
Giáo viên lớp 3 ghi: "Cái chết của người mẹ đã tác động mạnh đến Teddy. Em đã cố gắng học, nhưng cha em không mấy quan tâm đến con cái và đời sống gia đình sẽ ảnh hưởng đến em nếu em không được giúp đỡ".
Giáo viên chủ nhiệm lớp 5 nhận xét: "Teddy tỏ ra lãnh đạm và không tỏ ra thích thú trong học tập. Em không có nhiều bạn và thỉnh thoảng ngủ gục trong lớp".
Đọc đến đây, cô Thompson chợt hiểu ra vấn đề và cảm thấy tự hổ thẹn. Cô còn thấy áy náy hơn khi đến lễ Giáng sinh, tất cả học sinh trong lớp đem tặng cô những món quà gói giấy màu và gắn nơ thật đẹp, ngoại trừ món quà của Teddy. Em đem tặng cô một gói quà bọc vụng về bằng loại giấy gói hàng nâu xạm màu mà em tận dụng lại từ loại túi giấy gói hàng của tiệm tạp hóa.
Cô Thompson cảm thấy đau lòng khi mở gói quà ấy ra trước mặt cả lớp. Một vài học sinh đã bật cười khi thấy cô giơ lên
chiếc vòng giả kim cương cũ đã sút mất vài hột đá và một chai nước hoa chỉ còn lại một ít. Nhưng cô đã dập tắt những tiếng cười nhạo kia khi cô khen chiếc vòng đẹp, đeo nó vào tay và xịt một ít nước hoa trong chai lên cổ tay. Hôm đó Teddy đã nán lại cho đến cuối giờ để nói với cô: "Thưa cô, hôm nay cô thơm như mẹ em ngày xưa".
Sau khi đứa bé ra về, cô Thompson đã ngồi khóc cả giờ đồng hồ.
Và chính từ hôm đó, ngoài dạy học cô còn lưu tâm chăm sóc cho Teddy hơn trước. Mỗi khi cô đến bàn em để hướng dẫn thêm, tinh thần Teddy dường như phấn chấn hẳn lên. Cô càng động viên em càng tiến bộ nhanh. Vào cuối năm học, Teddy đã trở thành học sinh giỏi nhất lớp. Và trái với phát biểu của mình vào đầu năm học, đã không yêu thương mọi học sinh như nhau. Teddy là học trò cưng nhất của cô.
Một năm sau, cô tìm thấy một mẩu giấy nhét qua khe cửa. Teddy viết: "Cô là cô giáo tuyệt vời nhất trong đời em".
Sáu năm sau, cô lại nhận được một bức thư ngắn từ Teddy. Cậu cho biết đã tốt nghiệp trung học, đứng hạng ba trong lớp và "Cô vẫn là người thầy tuyệt vời nhất trong đời em".
Bốn năm sau, cô lại nhận được một lá thư nữa. Teddy cho biết dù hoàn cảnh rất khó khăn khiến cho cậu có lúc cảm thấy bế tắc, cậu vẫn quyết tốt nghiệp đại học với hạng xuất sắc nhất, nhưng "Cô vẫn luôn là cô giáo tuyệt vời mà em yêu quý nhất trong đời".
Rồi bốn năm sau nữa cô nhận được bức thư trong đó Teddy báo tin cho biết cậu đã đậu tiến sĩ và quyết định học thêm lên. "Cô vẫn là người thầy tuyệt nhất của đời em", nhưng lúc này tên cậu đã dài hơn. Bức thư ký tên Theodore F.Stoddard - giáo sư tiến sĩ.
Câu chuyện vẫn chưa kết thúc tại đây. Một bức thư nữa được gửi đến nhà cô Thompson. Teddy kể cậu đã gặp một cô gái và cậu sẽ cưới cô ta. Cậu giải thích vì cha cậu đã mất cách đây vài năm nên cậu mong cô Thompson sẽ đến dự lễ cưới và ngồi ở vị trí vốn thường được dành cho mẹ chú rể.
Và bạn thử đoán xem việc gì đã xảy ra? Ngày đó, cô đeo chiếc vòng kim cương giả bị rớt hột mà Teddy đã tặng cô năm xưa, xức thứ nước hoa mà Teddy nói mẹ cậu đã dùng vào kỳ Giáng sinh cuối cùng trước lúc bà mất.
Họ ôm nhau mừng rỡ và giáo sư Stoddard thì thầm vào tai cô Thompson: "Cám ơn cô đã tin tưởng em. Cám ơn cô rất nhiều vì đã làm cho em cảm thấy mình quan trọng và cho em niềm tin rằng mình sẽ tiến bộ".
Cô Thompson vừa khóc vừa nói nhỏ với cậu:
"Teddy, em nói sai rồi. Chính em mới là người đã dạy cô rằng cô có thể sống khác đi. Cô chỉ biết thế nào là dạy học kể từ khi cô được gặp em".

4 thg 4, 2013


Ly vỡ tan. Trước lúc chết, Ly nhìn thấy, mỗi mảnh của Ly, đều có đọng vết Nước. Lúc đó Ly mới biết, Ly yêu Nước, Ly thật sự rất yêu Nước. Nhưng mà, Ly không có cách nào để đưa Nước
Ly nói: "Tôi cô quạnh quá, tôi cần Nước, cho tôi chút nước nào!" 

Chủ hỏi: "Được, cho ngươi nước rồi, ngươi sẽ không cô quạnh nữa phải không?" 

Ly đáp: "Chắc vậy!" 

Chủ đem Nước đến, rót vào trong Ly. 

Nước rất nóng, Ly cảm thấy toàn thân mềm nhũn, rụng rời, tưởng như sắp tan chảy đến nơi. Ly nghĩ, đây chắc là sức mạnh của tình yêu. 

Một lát Nước chỉ còn âm ấm, Ly cảm thấy dễ chịu vô cùng. Ly nghĩ, đây chính là mùi vị của cuộc sống. 

Nước nguội đi, Ly bắt đầu sợ hãi, sợ hãi điều gì chính Ly cũng không biết. Ly nghĩ, đây chính là tư vị của sự mất mát. 

Nước lạnh ngắt, Ly tuyệt vọng. Ly nghĩ, đây chính là "an bài" của duyên phận. 

Ly kêu lên: "Chủ nhân, mau đổ nước ra đi, tôi không cần nữa!" 

Chủ không có đấy. Ly cảm thấy nghẹt thở. Nước đáng ghét, lạnh lẽo quá chừng, ở mãi trong lòng, thật là khó chịu. 

Ly dùng sức lay thật mạnh. Ly chao mình, Nước rốt cục cũng phải chảy ra. Ly chưa kịp vui mừng, thì đã ngã nhào xuống đất. 

Ly vỡ tan. Trước lúc chết, Ly nhìn thấy, mỗi mảnh của Ly, đều có đọng vết Nước. Lúc đó Ly mới biết, Ly yêu Nước, Ly thật sự rất yêu Nước. Nhưng mà, Ly không có cách nào để đưa Nước, nguyên vẹn, trở vào trong lòng được nữa. 

Ly bật khóc, lệ hoà vào với Nước. Ly đang cố dùng chút sức lực cuối cùng, yêu Nước thêm lần nữa.


Chủ về. Ông ta nhặt những mảnh vỡ, một mảnh cứa vào ngón tay, làm bật máu ra. 

Ly cười, tình yêu, rốt cục là cái gì, lẽ nào phải trải qua đớn đau mới biết trân trọng? 

Ly cười, tình yêu, rốt cục là cái gì, lẽ nào phải mất hết tất cả, không còn cách gì vãn hồi nữa mới chịu buông xuôi?
Nhưng Ly tuyệt vọng vì không còn cách nào đưa Nước nguyên vẹn, trở vào trong lòng được nữa...

Ly và Nước


Ly vỡ tan. Trước lúc chết, Ly nhìn thấy, mỗi mảnh của Ly, đều có đọng vết Nước. Lúc đó Ly mới biết, Ly yêu Nước, Ly thật sự rất yêu Nước. Nhưng mà, Ly không có cách nào để đưa Nước
Ly nói: "Tôi cô quạnh quá, tôi cần Nước, cho tôi chút nước nào!" 

Chủ hỏi: "Được, cho ngươi nước rồi, ngươi sẽ không cô quạnh nữa phải không?" 

Ly đáp: "Chắc vậy!" 

Chủ đem Nước đến, rót vào trong Ly. 

Nước rất nóng, Ly cảm thấy toàn thân mềm nhũn, rụng rời, tưởng như sắp tan chảy đến nơi. Ly nghĩ, đây chắc là sức mạnh của tình yêu. 

Một lát Nước chỉ còn âm ấm, Ly cảm thấy dễ chịu vô cùng. Ly nghĩ, đây chính là mùi vị của cuộc sống. 

Nước nguội đi, Ly bắt đầu sợ hãi, sợ hãi điều gì chính Ly cũng không biết. Ly nghĩ, đây chính là tư vị của sự mất mát. 

Nước lạnh ngắt, Ly tuyệt vọng. Ly nghĩ, đây chính là "an bài" của duyên phận. 

Ly kêu lên: "Chủ nhân, mau đổ nước ra đi, tôi không cần nữa!" 

Chủ không có đấy. Ly cảm thấy nghẹt thở. Nước đáng ghét, lạnh lẽo quá chừng, ở mãi trong lòng, thật là khó chịu. 

Ly dùng sức lay thật mạnh. Ly chao mình, Nước rốt cục cũng phải chảy ra. Ly chưa kịp vui mừng, thì đã ngã nhào xuống đất. 

Ly vỡ tan. Trước lúc chết, Ly nhìn thấy, mỗi mảnh của Ly, đều có đọng vết Nước. Lúc đó Ly mới biết, Ly yêu Nước, Ly thật sự rất yêu Nước. Nhưng mà, Ly không có cách nào để đưa Nước, nguyên vẹn, trở vào trong lòng được nữa. 

Ly bật khóc, lệ hoà vào với Nước. Ly đang cố dùng chút sức lực cuối cùng, yêu Nước thêm lần nữa.


Chủ về. Ông ta nhặt những mảnh vỡ, một mảnh cứa vào ngón tay, làm bật máu ra. 

Ly cười, tình yêu, rốt cục là cái gì, lẽ nào phải trải qua đớn đau mới biết trân trọng? 

Ly cười, tình yêu, rốt cục là cái gì, lẽ nào phải mất hết tất cả, không còn cách gì vãn hồi nữa mới chịu buông xuôi?
Nhưng Ly tuyệt vọng vì không còn cách nào đưa Nước nguyên vẹn, trở vào trong lòng được nữa...