3 thg 2, 2013

Suy Niệm Lời Chúa - Tuần IV Thường Niên


“Tôi bảo thật các ông: không một ngôn sứ nào được chấp nhận tại quê hương mình.”

SUY NIỆM


TIÊN TRI KHÔNG ĐƯỢC ĐÓN TIẾP TẠI QUÊ NHÀ
 
Lm. Giuse Nguyễn Ngọc Bích - BMT.         
 

Bài Tin mừng hôm nay nối tiếp đoạn Tin mừng của ngày Chúa nhật tuần trước, kể lại việc Chúa Giêsu trở về làng quê Nazareth và Ngài vào hội đường đọc sách Tiên tri Isaia với đọan“Thánh Thần Chúa ngự trên tôi, Người đã xức dầu cho tôi, v.v…”. Và liền sau đó Ngài khẳng định: “Hôm nay ứng nghiệm đoạn Kinh Thánh mà tai các ngươi vừa nghe”. Nhiều người ngày hôm ấy đã ngỡ ngàng với lời công bố đó. Đối với những người đã từng nghe sách ngôn sứ Isaia thì họ sẽ nhớ lại hoặc liên tưởng đến lời dẫn của ngôn sứ về việc Thiên Chúa đến ở với con người, như câu khẳng định sau: “ Này đây một trinh nữ sẽ thụ thai, hạ sinh một con trai, và người ta sẽ gọi tên con trẻ là Emmanuel, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta”.
Việc Thiên Chúa đến ở với con người nói lên tình yêu cứu độ Thiên Chúa dành cho nhân loại sa ngã, tội lỗi. Đây không phải là điều con người dùng lý trí hay sự hiểu biết mà suy ra nhưng là do chính Chúa Giêsu, Ngôi Lời Nhập thể, hiện thân của tình yêu Thiên Chúa đến với con người đã phán: “ Thiên Chúa yêu thương thế gian đến nỗi đã sai Con Ngài xuống trần gian để những ai tin vào Con của Ngài thì không phải chết nhưng được sống đời đời”. Thế nên ngay từ thời ngôn sứ Isaia, Ngài đã được Thiên Chúa soi sáng để nói về thời đại của Đấng Messia, Đấng Cứu Thế : “… Ngài đã xức dầu cho tôi sai tôi đem Tin mừng cho người nghèo khó, loan truyền sự giải thoát cho kẻ bị giam cầm, cho người mù được thấy, trả tự do cho những kẻ bị áp bức, công bố năm hồng ân và ngày khen thưởng”.
Tình yêu của Thiên Chúa đến với nhân loại được thể hiện qua việc nhập thể của Con Thiên Chúa xuống thế làm người. Trong ngày lễ Giáng sinh, chúng ta được nghe đoạn Tin mừng nói về việc Chúa Giêsu phải sinh ra ở nơi hang đá bò lừa hôi tanh lạnh lẽo, một nỗi đau khổ cho Vị Thiên Chúa ở với nhân loại, và cũng trong dịp lễ Giáng sinh chúng ta được nghe đoạn Tin mừng theo thánh Gioan nói về việc Ngôi Lời nhập thể nhưng không được con người đón nhận:“Ngôi Lời đã hóa thành nhục thể và ở giữa chúng ta… Ngài đã đến nhà các gia nhân Ngài nhưng các gia nhân đã không tiếp nhận Ngài.
Bài Tin mừng hôm nay, chính Chúa Giêsu nói lên nỗi đau khổ ấy: “Không một tiên tri nào được đón tiếp tại quê hương mình”. Người làng quê Nazareth chỉ nhìn nhận Chúa Giêsu là con bà Maria, con bác thợ mộc Giuse nghèo nàn, cho nên mặc dù Ngài có làm phép lạ, giảng dạy khôn khéo, chữa lành bệnh hoạn tật nguyền, xua trừ ma quỉ…. là việc làm của thời đại Đấng Messia thì ở đâu còn được, chứ ở quê Nazareth nơi Ngài sinh trưởng và 30 năm sống ẩn dật thì người dân vùng này không hề thay đổi não trạng đã có sẵn, mãi mãi Ngài chỉ là ‘con bác thợ mộc’.  Đoạn Tin mừng hôm nay còn ghi lại cho chúng ta: “Họ dẫn Ngài lên triền núi, nơi xây cất thành trì của họ, để xô Ngài xuống vực thẳm”.
Con người thời đại ngày hôm nay cũng không khác gì dân làng Nazareth ngày trước kia. Đúng như câu: “Gần chùa gọi Bụt bằng anh” mà dân gian thường dùng để mỉa mai những người coi khinh cả Đấng mình tôn thờ, vì quen quá nên coi thường, chẳng còn gì là kính trọng, chẳng còn gì là yêu mến. Người Kitô hữu thời đại hôm nay cũng thế, quá quen với nhà thờ là nơi mình đến để xem người ta làm việc thờ phượng như cách nói dân gian gọi là đi đến nhà thờ để‘xem lễ’, đi coi người khác diễn tuồng chứ không phải là chính bản thân mình là thành phần dân Chúa đến nhà thờ để tham dự các nghi lễ phụng vụ của Giáo hội, của chính Chúa Giêsu hiến tế thân mình trên bàn thờ Thập giá để mình được tham dự vào cuộc tử nạn của Chúa hầu dẫn đưa mình tới ơn cứu độ. Cũng vì coi thường các cử hành phụng vụ đặc biệt nhất là Thánh lễ mà ngày nay nhiều nhà thờ công giáo đã biến gian cung thánh trở thành cái ‘sân khấu’ trình diễn đủ mọi tiết mục vui chơi. Cũng vì coi thường mà ngày nay nhiều nơi đã đánh mất ý nghĩa đích thật của nhà cầu nguyện, nơi mà người tín hữu từ trước vẫn gọi là ‘thánh đường’, nơi có Chúa là Đấng chí Thánh ngự trị, nơi mà người tín hữu qui tụ để thờ kính Thiên Chúa, Đấng Thánh cao cả. Nhiều khuôn viên nhà thờ ngày nay đã biến thành nơi tổ chức tiệc tùng, ăn nhậu. Nhiều Kitô hữu ngày nay đến thánh đường chỉ để khoe thời trang, để tạo sự chú ý cho người khác thấy mình ngày hôm nay không giống hôm trước. Ngày hôm nay những người được mệnh danh là ‘đạo gốc’ đã và đang thể hiện tính cách ‘gốc rễ’ của mình khi đến thánh đường là chỉ muốn đứng ở gốc cây chung quanh nhà thờ. Còn nói gì đến cảnh ngồi trên xe máy ôm nhau, hoặc lấy điện thoại ra liên lạc với người ở xa, kể cả lấy thuốc lá ra hút hay rì rầm nói chuyện với người bên cạnh mà vẫn cho mình là đã đi lễ vì mình đã có mặt ở nhà thờ vào giờ lễ. Tất cả đều do không nhận ra giá trị đích thật của nhà thờ, của các cử hành phụng vụ đặc biệt nhất là thánh lễ, như người dân làng Nazareth ngày trước kia đã chỉ thấy nơi Chúa Giêsu là con bác thợ mộc Giuse, thậm chí còn muốn xô Ngài xuống vực thẳm cho chết.
Lời Chúa trong bài Tin mừng, bài trích sách ngôn sứ Giêrêmia và bài thư của Thánh Phaolô tông đồ gửi giáo đoàn Côrintô hôm nay, đặc biệt nhất là lời Chúa Giêsu đã phải đau lòng mà thốt lên: “Tiên tri không được đón tiếp tại quê hương mình”, sẽ là lời nhắc nhở chúng ta mãi mãi nhìn lại thái độ, cung cách của mình khi tham dự thánh lễ ở nhà thờ và những việc đạo đức ở tại nhà riêng của mình, để khi làm tất cả những việc gọi là tôn thờ Thiên Chúa chúng ta diễn tả được trọn vẹn tấm lòng tôn kính với Đấng Thánh Cao Cả muôn đời. Amen




“THÂN PHẬN NGƯỜI NGÔN SỨ”
 
Lm. Antôn Vũ Thanh Lịch
Quản xứ Dũng Lạc, BMT.


Ngôn sứ hay Tiên tri, là người nói trước, nói thay cho Chúa, chuyển đạt tôn ý của Thiên Chúa cho con người. Nói thay, nói trước không chỉ bằng lời nói mà còn bằng chính bản lĩnh đời sống của mình, như quân tử của Nho giáo:
“Uy vũ bất năng khuất
Phú quí bất năng dâm
Bần tiện bất năng di…”
Hoặc nói như Thôi Trứ trước Án Tử:
“Lấy lợi nhữ người ta, bảo người ta phản bội quân thượng là bất nhân.
Lấy binh khí hiếp người ta làm cho người ta mất chí khí là bất dũng.
Giết thì giết, ta đây không theo việc bất nhân của nhà ngươi đâu.”
Người ngôn sứ có trách nhiệm nói lời của Chúa, có nghĩa là phải can đảm cảnh cáo dân chúng bỏ nếp sống vô luân, ngoại giáo, quay về với Thiên Chúa duy nhất, Chí thánh, Chí tôn. Như trường hợp ngôn sứ Giê-rê-mi-a. Thay vì nghe lời ông, họ đã đánh đòn, cột trói ông vào trong bao, và có lần xô ông vào đống phân, ném ông xuống giếng cạn. (x. Gr các chương 36-45) Tiên tri Elia thì bị Hoàng hậu I-de-ven truy nã, phải chạy trốn lên núi Carmel. Thánh Gioan tiền hô thì bị Hê-rô-đê chém đầu, vì Ngài đã cảnh cáo ông về tội loạn luân và giết người.
Thánh Phaolô cũng bị đồng bào chống đối, bách hại, giam cầm, và sau cùng bị giao nộp cho chính quyền La- mã. Người bị chém đầu ở Rô-ma khoảng năm 67 (Scn). Và chính Chúa Giê-su cũng chung một số phận bạc bẽo như thế. Ngài đã khởi đầu cuộc tử nạn kéo dài từ biến cố chối từ làm phép lạ theo yêu cầu của người đồng hương Nazaret, và kết thúc bằng cái chết đau thương, tủi nhục trên thập giá. Rất nhiều ngôn sứ trong lịch sử cũng không thoát khỏi lao đao lận đận do đã thay mặt Chúa nói lên những “sự thật mất lòng.
Đức Giê-su và các ngôn sứ đứng về phía nào?
Đức Giê-su và các Ngôn sứ bị chống đối chỉ vì các Ngài đã ưu tiên chọn người nghèo, thấp cổ bé miệng, bị áp bức. Ngài không phân biệt màu da, văn hóa, giai cấp xã hội, đồng bào hay ngoại kiều…. Các Ngài coi sứ như sứ mạng của các Ngài là rao giảng Tin Mừng giải phóng… giải phóng con người khỏi bị vong thân tha hóa, nô lệ cho dục vọng, kiêu căng, thành kiến.
Trung thành với giáo huấn của Chúa, các Ngôn sứ cũng như Chúa Giê-su, không những phải công bố rao giảng giáo huấn của Chúa về con người, không chỉ trên bình diện nguyên tắc, mà còn cả trong thực hành cụ thể. Do đó, các Ngài còn có nghĩa vụ tố giác mỗi khi tội có mặt, tội bất công và tội bạo lực, cách này hay cách khác, đang lan tràn và thâm nhập vào xã hội. Nhờ mạnh bạo tố giác, các Ngài giống như những người bảo vệ các quyền lợi, không được nhìn nhận hay bị xâm phạm, nhất là quyền của người nghèo, người yếu kém.
Trong bối cảnh của thế giới hôm nay, Giáo hội dấn thân trong công tác mục vụ này theo hai hướng : bằng cách công bố nền tảng Kitô giáo về nhân quyền, và bằng cách tố giác những vi phạm các quyền này. ( giáo trình HTXH- CG).
“Một ngày Chúa nhật, Hoàng Đế Anh quốc xuất hiện trong Thánh lễ tại một nhà thờ của một linh mục người Anh rất nổi tiếng. Nhà vua không báo trước. Khi thấy nhà vua vị linh mục hốt hoảng, bởi vì trong bài giảng ông định sẽ cảnh cáo những người giàu có, quyền thế, những người làm ngơ trước người nghèo, trong đó có cả nhà vua. Vì vậy trước khi bắt đầu giảng, ông ngừng lại và nói với chính mình: “ ngươi hãy cẩn thận điều ngươi nói, vì vua nước Anh đang có mặt ở đây” rồi ông nói thêm: “ nhưng cũng hãy cẩn thận điều ngươi nói, vì Vua các Vua cũng đang hiện diện ở nơi đây hôm nay”.
Chúa Giê su và các ngôn sứ của Ngài, tuyên bố mạnh mẽ chống lại điều Ác. Chúng ta có quyết liệt chống lại điều Ác không?





SỐ PHẬN NGÔN SỨ
Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa – Ban Mê Thuột.

Đã là Kitô hữu thì thảy đều được tham dự vào ba chức vụ của Chúa Kitô là ngôn sứ, tư tế và vương giả. Lướt cái nhìn qua ba sứ vụ ấy thì sứ vụ tư tế xem ra được kính nể hơn cả. Sứ vụ vương giả tuy có nhiều vất vả nhưng lại được trọng kính một cách nào đó. Còn sứ vụ ngôn sứ thì có lẽ hẩm hiu nhất.
Làm ngôn sứ là nhân danh Chúa và thay mặt Chúa mà trình bày ý, lời của Chúa cho đồng loại. Lời Chúa là lời tình yêu, nhưng cũng là lời chân lý. Chính vì thế mà Lời Chúa được ví như thanh gươm hai luỡi phân rẽ tâm hồn con người. Ngay lời của con người, nếu là lời của sự thật, thì cũng đã dễ mất lòng. Phận người chúng ta xem ra công ít mà tội nhiều. Mặt tốt cũng có, việc lành cũng có, nhưng chẳng đáng là bao so với mặt tồn tại và những lỗi lầm. Và thế là người ta thật khó chấp nhận khi sự thật về con người mình bị phơi bày.
Ngôn sứ là người thường nói những lời khó nghe. Vâng lệnh Thiên Chúa để nói nói lời tình yêu mà cũng là lời sự thật, quả là một sứ vụ đầy cam go. Hình như các ngôn sứ khi được Chúa kêu mời thi hành sứ vụ, thì thường run rẩy hoặc tìm cách thoái thác. Quả thật chuyện “chưa được mạ thì má đã sưng” là chuyện xưa nay không hiếm. Nói lời sự thật cho nhau, nhất là cho những người đang nắm quyền cao, chức trọng, thì biết bao nguy hiểm rình chờ ập xuống đầu, xuống cổ, không biết khi nào. Thế mà Chúa vẫn cứ bảo với ngôn  sứ: “Người hãy thắt lưng, hãy chỗi dậy! Hãy nói với chúng tất cả những gì Ta sẽ truyền cho ngươi. Trước mặt chúng, ngươi đừng run sợ, nếu không, trước mặt chúng, chính Ta sẽ làm cho ngươi run sợ luôn” (Gr 1,17).
Đã là ngôn sứ thì phải nói lời sự thật. Đây không chỉ là sứ mạng mà còn là cái giá của hạnh phúc người sứ ngôn. Nếu không nói thì chính sứ ngôn sẽ nhận lấy tại họa từ chính Thiên Chúa: “chính Ta sẽ làm cho ngươi run sợ”. Nếu người ngôn sứ mà không nói cho kẻ gian ác biết điều gian ác nó đã phạm, khiến nó phải chết trong sự gian ác của nó, thì chính Thiên Chúa sẽ đòi nợ máu nó nơi người sứ ngôn (x.Ed 3,18).
Vấn đề thật lắm oái ăm: khi nói lời sự thật mà đó là những sự không hay, không tốt có đụng chạm đến những người chức cao quyền lớn thì rất dễ bị quy chụp là phản động, là gây chia rẽ, là vạch áo cho người xem lưng, là… Và số phận các sứ ngôn từ trước đến nay dường như chẳng khác nhau bao nhiêu, chẳng hạn như Êlia, Giêrêmia, Gioan Tẩy Giả…thảy đều có kết cục chẳng sáng sủa chút nào.
Tuy nhiên làm sao để phân định rằng khi nào thì một ngôn sứ nói lời chân lý do Chúa phán truyền? Bởi chưng, vẫn có đó nhiều sứ ngôn giả hiệu, chỉ nói những điều mình muốn nói, cho dù nhiều lúc đó là sự thật, nhưng không phải do Chúa ra lệnh nói. Chúng ta đừng quên, thần dữ cũng đã từng xui khiến nhiều người nó ám, mở miệng tuyên xưng Chúa Kitô là Con Thiên Chúa, Đấng Messia và Chúa Kitô đã ngăn cấm chúng (x.Mc 1,21-28; Lc 4,31-37).
Dĩ nhiên, đã là ngôn sứ chính hiệu thì phải nói những gì Chúa phán dạy. Những gì Chúa phán dạy luôn hướng đến điều tốt đẹp. “Đã nhổ thì phải biết trồng”; “Đã đập phá thì phải biết dựng, biết xây” (x.Gr 1,10; 18,7-10). Ngôn sứ chính hiệu thì sau khi phê phán những điều tiêu cực, những mặt hạn chế, những lỗi lầm của con người, của xã hội, thì luôn đề ra giải pháp khắc phục và biện pháp sửa sai.
Như thế, mục đích của sứ ngôn khi nói lời sự thật thì luôn nhằm điều thiện hảo cho người nghe. Thánh Phaolô nói với tín hữu Côrintô rằng để mọi hành vi của chúng ta có giá trị thì phải xuất phát từ một tấm lòng đầy đức mến. “Giả như tôi được ơn nói tiên tri (làm ngôn sứ), và được biết hết mọi điều bí nhiệm, mọi lẽ cao siêu, hay có được tất cả đức tin đến chuyển núi dời non, mà không có đức mến thì tôi cũng chẳng là gì” (1Cr 13,2). Tình mến ở đây phải là tình yêu như Chúa Kitô đã yêu thương chúng ta. Tình yêu thương đích thực được biểu hiện qua việc chúng ta làm tất cả chỉ vì hạnh phúc người mình yêu mến, trong sự liên đới đến cùng. Thánh tông đồ dân ngoại đã từng thốt lên:“Có ai yếu đuối mà tôi lại không cảm thấy mình yếu đuối? Có ai vấp ngã mà tôi lại không cảm thấy lòng sôi lên” (2Cr 11,29).
Một ngôn sứ của Chúa thì phải nói lời Chúa dạy. Lời Chúa dạy luôn là lời tình yêu, lời sự thật. Khi đã nói lời sự thật, dù rằng khởi đầu bằng những hiện thực chẳng hay chẳng tốt về tha nhân hay xã hội nhưng được kết thúc bằng những phương thế giúp nhau hoán cải, đổi thay, thăng tiến. Ngôn sứ của Chúa thì luôn chân thành mong ước điều tốt đẹp cho cả người mình phê phán hay góp ý. Và dĩ nhiên một trong những hệ quả dù không mong cũng thường xảy đến đó là thập giá.
Giêrêmia đã phải hứng chịu nhiều nỗi truân chuyên khi làm kiếp “tứ phía kinh hoàng” (x.Gr 20,4). Đó là thân phận con chiên hiền lành bị đem đi làm thịt. Và ngay cả những người đồng hương của ngài, dân Anathốt, cũng đã đe dọa làm hại tính mạng ngài (x.Gr 11,19-21). Số phận của Vị Đại ngôn sứ là Giêsu Kitô cũng không hơn gì. Khi thẳng thắn nói cho người đồng hương biết về tính phổ quát của ơn cứu độ, tức là tình yêu của Thiên Chúa không dành riêng cho một ai, một dân tộc nào, một xứ sở nào, thì Chúa Giêsu đã phải đón nhận sự phẫn nộ, đúng hơn là sự cuồng nộ của dân Nagiarét. Sự ích kỷ đã làm cho tâm hồn người dân Nagiarét lúc bấy giờ ra mù quáng. Ăn không được thì đập bỏ, chứ không cho kẻ khác hưởng nhờ chăng? Dù sao đi nữa thì thái độ cuồng nộ đến nỗi bắt Chúa Giêsu đem lên núi để xô Người xuống vực cho chết là một thái độ không thể tưởng, nhưng lại là sự thật.
Một vài nhà chú giải Thánh Kinh cho rằng Chúa Giêsu có hai lần về Nagiarét. Một lần thì Người được tung hô, đón nhận, và lần khác thì bị tẩy chay, ngược đãi. Thế nhưng, việc thánh sử Luca kể liền một mạch hai thái độ trái ngược của người đồng hương Chúa Giêsu cũng nhắc nhớ cho ta thấy rõ lòng người rất dễ đổi trắng thay đen, khi sự ích kỷ, nhỏ nhen ngự trị. Sau này dân thành Giêrusalem cũng thế. Trước thì hoan hô, chúc tụng Con vua Đavit, thế mà sau đó mấy ngày lại giơ cao nắm đấm, la gào: “đóng đinh, đóng đinh nó vào thập giá”.(x.Mt 21,9; 27,23).
Làm tất cả vì hạnh phúc người mình yêu, nói lời sự thật cho mình yêu và rồi sẵn sàng đón nhận sự ngược đãi, bách hại trong sự khoan dung, tha thứ, chính là chân dung ngôn sứ thật. Tuyên phán những sự may lành thì không khó, nhưng khi phải nói những điều chẳng hay, để giúp nhau thay đổi thì quả là chẳng dễ chút nào, nhất là khi sự chẳng hay ấy lại liên hệ đến những người có thể làm hại chúng ta cách này cách khác. Tuy nhiên đã là Kitô hữu thì tất thảy chúng ta đều phải làm sứ ngôn cho Thiên Chúa. Đây là một sứ mạng không thể khước từ hoặc cố tình xao nhãng hoặc tìm cách biện bạch để bỏ qua. Ước gì không một ai trong chúng ta, cách riêng các mục tử trong Giáo hội, phải hứng chịu lời tuyên án của Thiên Chúa khi Người đòi nợ máu của người gian ác trên mình, vì đã không chu toàn sứ mạng ngôn sứ đó là nói lời tình yêu trong sự thật và nói lời sự thật với cả tấm lòng.

0 nhận xét:

Đăng nhận xét

Thêm lời bình để góp ý cho blog ngày càng hoàn thiện hơn!