BÀI ĐỌC I: Is 53, 10-11"Nếu người hiến thân làm lễ vật đền tội, người sẽ thấy một dòng dõi trường tồn".
Trích sách Tiên tri Isaia.Chúa đã muốn hành hạ người trong đau khổ. Nếu người hiến thân làm lễ vật đền tội, người sẽ thấy một dòng dõi trường tồn, và nhờ người, ý định của Chúa sẽ thành tựu. Nhờ nỗi khổ tâm của người, người sẽ thấy và sẽ được thoả mãn. Nhờ sự thông biết, tôi tớ công chính của Ta sẽ công chính hoá nhiều người, sẽ gánh lấy những tội ác của họ. Đó là lời Chúa.
ĐÁP CA: Tv 32, 4-5. 18-19. 20 và 22Đáp: Lạy Chúa, xin đổ lòng từ bi xuống trên chúng con, theo như chúng con tin cậy ở nơi Ngài.
Xướng: 1) Vì lời Chúa là lời chân chính, bao việc Chúa làm đều đáng cậy tin. Chúa yêu chuộng điều công minh chính trực, địa cầu đầy ân sủng của Chúa.
2) Kìa Chúa để mắt coi những kẻ kính sợ Ngài, nhìn xem những ai cậy trông ân sủng của Ngài, để cứu gỡ họ khỏi tay thần chết, và nuôi dưỡng họ trong cảnh cơ hàn.
3) Linh hồn chúng con mong đợi Chúa, chính Ngài là Đấng phù trợ và che chở chúng con. Lạy Chúa, xin đổ lòng từ bi xuống trên chúng con, theo như chúng con tin cậy ở nơi Ngài.
BÀI ĐỌC II: Dt 4, 14-16"Chúng ta hãy cậy trông vững vàng mà tiến đến trước toà ân sủng".
Trích thư gửi tín hữu Do-thái.Anh em thân mến, chúng ta có một Thượng tế cao cả đã đi qua các tầng trời, là Đức Giêsu, Con Thiên Chúa, nên chúng ta hãy giữ vững việc tuyên xưng đức tin của chúng ta. Vì chưng, không phải chúng ta có vị Thượng tế không thể cảm thông sự yếu đuối của chúng ta, trái lại, Người đã từng chịu thử thách bằng mọi cách như chúng ta, ngoại trừ tội lỗi. Vậy chúng ta hãy cậy trông vững vàng mà tiến đến trước toà ân sủng, ngõ hầu lãnh nhận lòng từ bi và tìm kiếm ân sủng để gặp được ơn phù trợ kịp thời. Đó là lời Chúa.
ALLELUIA: 1 Sm 3, 9Alleluia, alleluia! - Lạy Chúa, xin hãy phán, vì tôi tớ Chúa đang lắng tai nghe; Chúa có lời ban sự sống đời đời. - Alleluia.
PHÚC ÂM: Mc 10, 35-45 (bài dài)"Con Người đến để ban mạng sống Mình làm giá cứu chuộc cho nhiều người".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Marcô.Khi ấy, Giacôbê và Gioan con ông Giêbêđê đến gần Chúa Giêsu và thưa Người rằng: "Lạy Thầy, chúng con muốn Thầy ban cho chúng con điều chúng con sắp xin Thầy". Người hỏi: "Các con muốn Thầy làm gì cho các con?" Các ông thưa: "Xin cho chúng con một người ngồi bên hữu, một người ngồi bên tả Thầy trong vinh quang của Thầy". Chúa Giêsu bảo: "Các con không biết các con xin gì. Các con có thể uống chén Thầy sắp uống và chịu cùng một phép rửa Thầy sắp chịu không?" Các ông đáp: "Thưa được". Chúa Giêsu bảo: "Chén Thầy uống, các con cũng sẽ uống, và phép rửa Thầy sắp chịu, các con cũng sẽ chịu. Còn việc ngồi bên hữu hay bên tả Thầy, thì không thuộc quyền Thầy ban, nhưng là dành cho những ai đã được chỉ định". Mười môn đệ kia nghe chuyện đó liền bực tức với Giacôbê và Gioan. Chúa Giêsu gọi các ông lại gần mà bảo: "Các con biết rằng những người được coi là lãnh tụ các nước, thì sai khiến dân chúng như ông chủ, và những người làm lớn thì lấy uy quyền mà trị dân. Còn các con không như thế. Trái lại, ai trong các con muốn làm lớn, thì hãy tự làm đầy tớ anh em. Và ai muốn thành người cầm đầu trong các con, thì hãy tự làm nô lệ cho mọi người. Vì chính Con Người cũng không đến để được phục vụ, nhưng để phục vụ và ban mạng sống mình làm giá cứu chuộc cho nhiều người". Đó là lời Chúa.
SUY NIỆM TIN MỪNG TỪ THU BUỒN ĐẾN XUÂN CỨU ĐỘ
Mùa thu đang len lén vào hồn thi nhân khiến những chiếc lá vàng rơi không khởi đầu một cõi chết, nhưng tô điểm và báo hiệu một sức sống vụt lên khi kết hiệp với những bước chân xào xạc của những chú nai vàng ngơ ngác. Màu trời Mùa Thu có khi trong xanh cao vút niềm hy vọng, nhưng có lúc vẩn đục khói sương của những tâm hồn trĩu nặng u buồn khói mây! Khi màu đen xám chiếm đoạt và loang lổ cõi lòng, hồn ta sẽ mãi là thu buồn bất tận. Màu sắc chiếm đoạt cũng đồng nghĩa với danh vọng hão huyền ngự trị lòng nhân loại. Hai môn đệ Giacôbê và Gioan khi muốn được ngồi bên tả và bên hữu Thầy Giêsu, lập tức mùa thu buồn loang lổ trong lòng những môn đệ khác. Thầy Giêsu lại phải vẽ lại màu sắc cho Mùa Thu cao xanh trong sáng ơn thánh trong hồn các môn đệ: Việc ngồi bên tả hữu trong Nước Chúa sẽ dành cho người Chúa tuyển chọn...Vác thập giá và đóng đinh mình vào đó là bổn phận những người tự nguyện theo Thầy... Cứ tiếp tục phục vụ và hành động như thân phận người đầy tớ để giá trị của nó biến thành Mùa Xuân cứu rỗi.
Có lẽ các môn đệ Đức Giêsu trong thoáng chốc sẽ chẳng thể hiểu cũng như sẽ không thể chấp nhận lý thuyết ngược đời ấy: Ai mà lại dại dột làm đầy tớ kẻ khác! Đúng vậy, khi Thầy Giêsu đang lên Giêrusalem để thực hiện sứ mạng cứu chuộc nhân loại qua cuộc khổ nạn, thì các môn đệ vẫn còn tranh chấp nhau xem ai sẽ là kẻ được làm lớn nhất trong Nước Trời theo kiểu nhân loại! Thầy thì đi tìm chỗ rốt hết, còn môn đệ lại đi tìm chỗ nhất: thật là ngược đời và tức cười! (thực ra họ đâu hiểu được chỗ bên tả và bên hữu Thầy sau này dành cho hai kẻ trộm bên cạnh thập giá, mà cuối cùng chính hai môn đệ ấy đã chịu cùng cảnh ngộ với bản án tử đạo, sau khi đã thưa chấp nhận uống chén đắng với Thầy) Tâm trạng hai môn đệ ấy dù đã qua hơn hai mươi thế kỷ, nó vẫn là những áng mây chiều thu xám ngắt trong tâm hồn các tín hữu Đức Giêsu, và vẫn ngự trị cuộc đời những người hiến dâng cuộc sống theo Ngài. Buồn ơi là buồn! Danh vọng hão huyền thế gian sao mạnh mẽ quá! Những lời khuyên và tiếng nói của Chúa Giêsu như mất hút trong mùa thu ảm đạm đời người dương thế.
Biết thế, Chúa Giêsu vẫn không thất vọng, Ngài tiếp tục đi hết con đường phục vụ như người đầy tớ chết treo thân mình trơ trụi trên cây thập tự. Vừa khi sứ mệnh kết thúc, cả bầu trời đen tối thất vọng lao xuống hồn các môn đệ. Nhưng thoáng chốc, mây mù thu buồn tan biến khi hy vọng của Xuân cứu rỗi vươn lên với bóng dáng Phục sinh thấp thoáng của Thầy Giêsu. Các môn đệ bắt đầu nhận được sức mạnh để loan truyền ơn cứu độ cho thế giới. Qủa thực, đức tin và tình yêu chỉ có thể thực hiện khi các môn đệ Chúa Giêsu tự cảm nghiệm nơi mình: Muốn làm lớn, muốn Nước Chúa trị đến, cần phải phục vụ như người đầy tớ hết lòng hy sinh và hy sinh tận tình.
Xin Chúa hãy biến đổi lòng chúng con như đã biến đổi các môn đệ Chúa, Chúa ơi.
Lm. Raphael Xuân Nguyên
TÔNG THƯ NĂM ĐỨC TIN
APOSTOLIC LETTER “MOTU PROPRIO DATA”
PORTA FIDEI
OF THE SUPREME PONTIFF BENEDICT XVI
FOR THE INDICTION OF THE YEAR OF FAITH
1. The “door of faith” (Acts 14:27) is always open for us, ushering us into the life of communion with God and offering entry into his Church. It is possible to cross that threshold when the word of God is proclaimed and the heart allows itself to be shaped by transforming grace. To enter through that door is to set out on a journey that lasts a lifetime. It begins with baptism (cf. Rom 6:4), through which we can address God as Father, and it ends with the passage through death to eternal life, fruit of the resurrection of the Lord Jesus, whose will it was, by the gift of the Holy Spirit, to draw those who believe in him into his own glory (cf. Jn 17:22). To profess faith in the Trinity – Father, Son and Holy Spirit – is to believe in one God who is Love (cf. 1 Jn 4:8): the Father, who in the fullness of time sent his Son for our salvation; Jesus Christ, who in the mystery of his death and resurrection redeemed the world; the Holy Spirit, who leads the Church across the centuries as we await the Lord’s glorious return.
2. Ever since the start of my ministry as Successor of Peter, I have spoken of the need to rediscover the journey of faith so as to shed ever clearer light on the joy and renewed enthusiasm of the encounter with Christ. During the homily at the Mass marking the inauguration of my pontificate I said: “The Church as a whole and all her Pastors, like Christ, must set out to lead people out of the desert, towards the place of life, towards friendship with the Son of God, towards the One who gives us life, and life in abundance.” [1] It often happens that Christians are more concerned for the social, cultural and political consequences of their commitment, continuing to think of the faith as a self-evident presupposition for life in society. In reality, not only can this presupposition no longer be taken for granted, but it is often openly denied.[2] Whereas in the past it was possible to recognize a unitary cultural matrix, broadly accepted in its appeal to the content of the faith and the values inspired by it, today this no longer seems to be the case in large swathes of society, because of a profound crisis of faith that has affected many people.
3. We cannot accept that salt should become tasteless or the light be kept hidden (cf. Mt 5:13-16). The people of today can still experience the need to go to the well, like the Samaritan woman, in order to hear Jesus, who invites us to believe in him and to draw upon the source of living water welling up within him (cf. Jn 4:14). We must rediscover a taste for feeding ourselves on the word of God, faithfully handed down by the Church, and on the bread of life, offered as sustenance for his disciples (cf. Jn 6:51). Indeed, the teachings of Jesus still resounds in our day with the same power: “Do not labour for the food which perishes, but for the food which endures to eternal life” (Jn 6:27). The question posed by his listeners is the same that we ask today: “What must we do, to be doing the works of God?” (Jn 6:28). We know Jesus’ reply: “This is the work of God, that you believe in him whom he has sent” (Jn 6:29). Belief in Jesus Christ, then, is the way to arrive definitively at salvation.
4. In the light of all this, I have decided to announce a Year of Faith. It will begin on 11 October 2012, the fiftieth anniversary of the opening of the Second Vatican Council, and it will end on the Solemnity of Our Lord Jesus Christ, Universal King, on 24 November 2013. The starting date of 11 October 2012 also marks the twentieth anniversary of the publication of the Catechism of the Catholic Church, a text promulgated by my Predecessor, Blessed John Paul II,[3] with a view to illustrating for all the faithful the power and beauty of the faith. This document, an authentic fruit of the Second Vatican Council, was requested by the Extraordinary Synod of Bishops in 1985 as an instrument at the service of catechesis[4] and it was produced in collaboration with all the bishops of the Catholic Church. Moreover, the theme of the General Assembly of the Synod of Bishops that I have convoked for October 2012 is “The New Evangelization for the Transmission of the Christian Faith”. This will be a good opportunity to usher the whole Church into a time of particular reflection and rediscovery of the faith. It is not the first time that the Church has been called to celebrate a Year of Faith. My venerable Predecessor the Servant of God Paul VI announced one in 1967, to commemorate the martyrdom of Saints Peter and Paul on the 19th centenary of their supreme act of witness. He thought of it as a solemn moment for the whole Church to make “an authentic and sincere profession of the same faith”; moreover, he wanted this to be confirmed in a way that was “individual and collective, free and conscious, inward and outward, humble and frank”.[5] He thought that in this way the whole Church could reappropriate “exact knowledge of the faith, so as to reinvigorate it, purify it, confirm it, and confess it”.[6] The great upheavals of that year made even more evident the need for a celebration of this kind. It concluded with the Credo of the People of God,[7] intended to show how much the essential content that for centuries has formed the heritage of all believers needs to be confirmed, understood and explored ever anew, so as to bear consistent witness in historical circumstances very different from those of the past.
5. In some respects, my venerable predecessor saw this Year as a “consequence and a necessity of the postconciliar period”,[8] fully conscious of the grave difficulties of the time, especially with regard to the profession of the true faith and its correct interpretation. It seemed to me that timing the launch of the Year of Faith to coincide with the fiftieth anniversary of the opening of the Second Vatican Council would provide a good opportunity to help people understand that the texts bequeathed by the Council Fathers, in the words of Blessed John Paul II, “have lost nothing of their value or brilliance. They need to be read correctly, to be widely known and taken to heart as important and normative texts of the Magisterium, within the Church's Tradition ... I feel more than ever in duty bound to point to the Council as the great grace bestowed on the Church in the twentieth century: there we find a sure compass by which to take our bearings in the century now beginning.”[9] I would also like to emphasize strongly what I had occasion to say concerning the Council a few months after my election as Successor of Peter: “if we interpret and implement it guided by a right hermeneutic, it can be and can become increasingly powerful for the ever necessary renewal of the Church.”[10]
6. The renewal of the Church is also achieved through the witness offered by the lives of believers: by their very existence in the world, Christians are called to radiate the word of truth that the Lord Jesus has left us. The Council itself, in the Dogmatic Constitution Lumen Gentium, said this: While “Christ, ‘holy, innocent and undefiled’ (Heb7:26) knew nothing of sin (cf. 2 Cor 5:21), but came only to expiate the sins of the people (cf. Heb 2:17)... the Church ... clasping sinners to its bosom, at once holy and always in need of purification, follows constantly the path of penance and renewal. The Church, ‘like a stranger in a foreign land, presses forward amid the persecutions of the world and the consolations of God’, announcing the cross and death of the Lord until he comes (cf. 1 Cor 11:26). But by the power of the risen Lord it is given strength to overcome, in patience and in love, its sorrow and its difficulties, both those that are from within and those that are from without, so that it may reveal in the world, faithfully, although with shadows, the mystery of its Lord until, in the end, it shall be manifested in full light.”[11]
The Year of Faith, from this perspective, is a summons to an authentic and renewed conversion to the Lord, the one Saviour of the world. In the mystery of his death and resurrection, God has revealed in its fullness the Love that saves and calls us to conversion of life through the forgiveness of sins (cf. Acts 5:31). For Saint Paul, this Love ushers us into a new life: “We were buried ... with him by baptism into death, so that as Christ was raised from the dead by the glory of the Father, we too might walk in newness of life” (Rom 6:4). Through faith, this new life shapes the whole of human existence according to the radical new reality of the resurrection. To the extent that he freely cooperates, man’s thoughts and affections, mentality and conduct are slowly purified and transformed, on a journey that is never completely finished in this life. “Faith working through love” (Gal 5:6) becomes a new criterion of understanding and action that changes the whole of man’s life (cf. Rom 12:2; Col 3:9-10; Eph 4:20-29; 2 Cor 5:17).
7. “Caritas Christi urget nos” (2 Cor 5:14): it is the love of Christ that fills our hearts and impels us to evangelize. Today as in the past, he sends us through the highways of the world to proclaim his Gospel to all the peoples of the earth (cf. Mt 28:19). Through his love, Jesus Christ attracts to himself the people of every generation: in every age he convokes the Church, entrusting her with the proclamation of the Gospel by a mandate that is ever new. Today too, there is a need for stronger ecclesial commitment to new evangelization in order to rediscover the joy of believing and the enthusiasm for communicating the faith. In rediscovering his love day by day, the missionary commitment of believers attains force and vigour that can never fade away. Faith grows when it is lived as an experience of love received and when it is communicated as an experience of grace and joy. It makes us fruitful, because it expands our hearts in hope and enables us to bear life-giving witness: indeed, it opens the hearts and minds of those who listen to respond to the Lord’s invitation to adhere to his word and become his disciples. Believers, so Saint Augustine tells us, “strengthen themselves by believing”.[12] The saintly Bishop of Hippo had good reason to express himself in this way. As we know, his life was a continual search for the beauty of the faith until such time as his heart would find rest in God.[13] His extensive writings, in which he explains the importance of believing and the truth of the faith, continue even now to form a heritage of incomparable riches, and they still help many people in search of God to find the right path towards the “door of faith”.
Only through believing, then, does faith grow and become stronger; there is no other possibility for possessing certitude with regard to one’s life apart from self-abandonment, in a continuous crescendo, into the hands of a love that seems to grow constantly because it has its origin in God.
8. On this happy occasion, I wish to invite my brother bishops from all over the world to join the Successor of Peter, during this time of spiritual grace that the Lord offers us, in recalling the precious gift of faith. We want to celebrate this Year in a worthy and fruitful manner. Reflection on the faith will have to be intensified, so as to help all believers in Christ to acquire a more conscious and vigorous adherence to the Gospel, especially at a time of profound change such as humanity is currently experiencing. We will have the opportunity to profess our faith in the Risen Lord in our cathedrals and in the churches of the whole world; in our homes and among our families, so that everyone may feel a strong need to know better and to transmit to future generations the faith of all times. Religious communities as well as parish communities, and all ecclesial bodies old and new, are to find a way, during this Year, to make a public profession of the Credo.
9. We want this Year to arouse in every believer the aspiration to profess the faith in fullness and with renewed conviction, with confidence and hope. It will also be a good opportunity to intensify the celebration of the faith in the liturgy, especially in the Eucharist, which is “the summit towards which the activity of the Church is directed; ... and also the source from which all its power flows.”[14] At the same time, we make it our prayer that believers’ witness of life may grow in credibility. To rediscover the content of the faith that is professed, celebrated, lived and prayed,[15] and to reflect on the act of faith, is a task that every believer must make his own, especially in the course of this Year.
Not without reason, Christians in the early centuries were required to learn the creed from memory. It served them as a daily prayer not to forget the commitment they had undertaken in baptism. With words rich in meaning, Saint Augustine speaks of this in a homily on the redditio symboli, the handing over of the creed: “the symbol of the holy mystery that you have all received together and that today you have recited one by one, are the words on which the faith of Mother Church is firmly built above the stable foundation that is Christ the Lord. You have received it and recited it, but in your minds and hearts you must keep it ever present, you must repeat it in your beds, recall it in the public squares and not forget it during meals: even when your body is asleep, you must watch over it with your hearts.”[16]
10. At this point I would like to sketch a path intended to help us understand more profoundly not only the content of the faith, but also the act by which we choose to entrust ourselves fully to God, in complete freedom. In fact, there exists a profound unity between the act by which we believe and the content to which we give our assent. Saint Paul helps us to enter into this reality when he writes: “Man believes with his heart and so is justified, and he confesses with his lips and so is saved” (Rom 10:10). The heart indicates that the first act by which one comes to faith is God’s gift and the action of grace which acts and transforms the person deep within.
The example of Lydia is particularly eloquent in this regard. Saint Luke recounts that, while he was at Philippi, Paul went on the Sabbath to proclaim the Gospel to some women; among them was Lydia and “the Lord opened her heart to give heed to what was said by Paul” (Acts 16:14). There is an important meaning contained within this expression. Saint Luke teaches that knowing the content to be believed is not sufficient unless the heart, the authentic sacred space within the person, is opened by grace that allows the eyes to see below the surface and to understand that what has been proclaimed is the word of God.
Confessing with the lips indicates in turn that faith implies public testimony and commitment. A Christian may never think of belief as a private act. Faith is choosing to stand with the Lord so as to live with him. This “standing with him” points towards an understanding of the reasons for believing. Faith, precisely because it is a free act, also demands social responsibility for what one believes. The Church on the day of Pentecost demonstrates with utter clarity this public dimension of believing and proclaiming one’s faith fearlessly to every person. It is the gift of the Holy Spirit that makes us fit for mission and strengthens our witness, making it frank and courageous.
Profession of faith is an act both personal and communitarian. It is the Church that is the primary subject of faith. In the faith of the Christian community, each individual receives baptism, an effective sign of entry into the people of believers in order to obtain salvation. As we read in the Catechism of the Catholic Church: “ ‘I believe’ is the faith of the Church professed personally by each believer, principally during baptism. ‘We believe’ is the faith of the Church confessed by the bishops assembled in council or more generally by the liturgical assembly of believers. ‘I believe’ is also the Church, our mother, responding to God by faith as she teaches us to say both ‘I believe’ and ‘we believe’.”[17]
Evidently, knowledge of the content of faith is essential for giving one’s own assent, that is to say for adhering fully with intellect and will to what the Church proposes. Knowledge of faith opens a door into the fullness of the saving mystery revealed by God. The giving of assent implies that, when we believe, we freely accept the whole mystery of faith, because the guarantor of its truth is God who reveals himself and allows us to know his mystery of love.[18]
On the other hand, we must not forget that in our cultural context, very many people, while not claiming to have the gift of faith, are nevertheless sincerely searching for the ultimate meaning and definitive truth of their lives and of the world. This search is an authentic “preamble” to the faith, because it guides people onto the path that leads to the mystery of God. Human reason, in fact, bears within itself a demand for “what is perennially valid and lasting”.[19] This demand constitutes a permanent summons, indelibly written into the human heart, to set out to find the One whom we would not be seeking had he not already set out to meet us.[20] To this encounter, faith invites us and it opens us in fullness.
11. In order to arrive at a systematic knowledge of the content of the faith, all can find in the Catechism of the Catholic Church a precious and indispensable tool. It is one of the most important fruits of the Second Vatican Council. In the Apostolic Constitution Fidei Depositum, signed, not by accident, on the thirtieth anniversary of the opening of the Second Vatican Council, Blessed John Paul II wrote: “this catechism will make a very important contribution to that work of renewing the whole life of the Church ... I declare it to be a valid and legitimate instrument for ecclesial communion and a sure norm for teaching the faith.”[21]
It is in this sense that that the Year of Faith will have to see a concerted effort to rediscover and study the fundamental content of the faith that receives its systematic and organic synthesis in the Catechism of the Catholic Church. Here, in fact, we see the wealth of teaching that the Church has received, safeguarded and proposed in her two thousand years of history. From Sacred Scripture to the Fathers of the Church, from theological masters to the saints across the centuries, the Catechism provides a permanent record of the many ways in which the Church has meditated on the faith and made progress in doctrine so as to offer certitude to believers in their lives of faith.
In its very structure, the Catechism of the Catholic Church follows the development of the faith right up to the great themes of daily life. On page after page, we find that what is presented here is no theory, but an encounter with a Person who lives within the Church. The profession of faith is followed by an account of sacramental life, in which Christ is present, operative and continues to build his Church. Without the liturgy and the sacraments, the profession of faith would lack efficacy, because it would lack the grace which supports Christian witness. By the same criterion, the teaching of the Catechism on the moral life acquires its full meaning if placed in relationship with faith, liturgy and prayer.
12. In this Year, then, the Catechism of the Catholic Church will serve as a tool providing real support for the faith, especially for those concerned with the formation of Christians, so crucial in our cultural context. To this end, I have invited the Congregation for the Doctrine of the Faith, by agreement with the competent Dicasteries of the Holy See, to draw up a Note, providing the Church and individual believers with some guidelines on how to live this Year of Faith in the most effective and appropriate ways, at the service of belief and evangelization.
To a greater extent than in the past, faith is now being subjected to a series of questions arising from a changed mentality which, especially today, limits the field of rational certainties to that of scientific and technological discoveries. Nevertheless, the Church has never been afraid of demonstrating that there cannot be any conflict between faith and genuine science, because both, albeit via different routes, tend towards the truth.[22]
13. One thing that will be of decisive importance in this Year is retracing the history of our faith, marked as it is by the unfathomable mystery of the interweaving of holiness and sin. While the former highlights the great contribution that men and women have made to the growth and development of the community through the witness of their lives, the latter must provoke in each person a sincere and continuing work of conversion in order to experience the mercy of the Father which is held out to everyone.
During this time we will need to keep our gaze fixed upon Jesus Christ, the “pioneer and perfecter of our faith” (Heb 12:2): in him, all the anguish and all the longing of the human heart finds fulfilment. The joy of love, the answer to the drama of suffering and pain, the power of forgiveness in the face of an offence received and the victory of life over the emptiness of death: all this finds fulfilment in the mystery of his Incarnation, in his becoming man, in his sharing our human weakness so as to transform it by the power of his resurrection. In him who died and rose again for our salvation, the examples of faith that have marked these two thousand years of our salvation history are brought into the fullness of light.
By faith, Mary accepted the Angel’s word and believed the message that she was to become the Mother of God in the obedience of her devotion (cf. Lk 1:38). Visiting Elizabeth, she raised her hymn of praise to the Most High for the marvels he worked in those who trust him (cf. Lk 1:46-55). With joy and trepidation she gave birth to her only son, keeping her virginity intact (cf. Lk 2:6-7). Trusting in Joseph, her husband, she took Jesus to Egypt to save him from Herod’s persecution (cf. Mt 2:13-15). With the same faith, she followed the Lord in his preaching and remained with him all the way to Golgotha (cf. Jn 19:25-27). By faith, Mary tasted the fruits of Jesus’ resurrection, and treasuring every memory in her heart (cf. Lk 2:19, 51), she passed them on to the Twelve assembled with her in the Upper Room to receive the Holy Spirit (cf. Acts 1:14; 2:1-4).
By faith, the Apostles left everything to follow their Master (cf. Mk 10:28). They believed the words with which he proclaimed the Kingdom of God present and fulfilled in his person (cf. Lk 11:20). They lived in communion of life with Jesus who instructed them with his teaching, leaving them a new rule of life, by which they would be recognized as his disciples after his death (cf. Jn 13:34-35). By faith, they went out to the whole world, following the command to bring the Gospel to all creation (cf. Mk 16:15) and they fearlessly proclaimed to all the joy of the resurrection, of which they were faithful witnesses.
By faith, the disciples formed the first community, gathered around the teaching of the Apostles, in prayer, in celebration of the Eucharist, holding their possessions in common so as to meet the needs of the brethren (cf. Acts 2:42-47).
By faith, the martyrs gave their lives, bearing witness to the truth of the Gospel that had transformed them and made them capable of attaining to the greatest gift of love: the forgiveness of their persecutors.
By faith, men and women have consecrated their lives to Christ, leaving all things behind so as to live obedience, poverty and chastity with Gospel simplicity, concrete signs of waiting for the Lord who comes without delay. By faith, countless Christians have promoted action for justice so as to put into practice the word of the Lord, who came to proclaim deliverance from oppression and a year of favour for all (cf. Lk 4:18-19).
By faith, across the centuries, men and women of all ages, whose names are written in the Book of Life (cf. Rev 7:9, 13:8), have confessed the beauty of following the Lord Jesus wherever they were called to bear witness to the fact that they were Christian: in the family, in the workplace, in public life, in the exercise of the charisms and ministries to which they were called.
By faith, we too live: by the living recognition of the Lord Jesus, present in our lives and in our history.
14. The Year of Faith will also be a good opportunity to intensify the witness of charity. As Saint Paul reminds us: “So faith, hope, love abide, these three; but the greatest of these is love” (1 Cor 13:13). With even stronger words – which have always placed Christians under obligation – Saint James said: “What does it profit, my brethren, if a man says he has faith but has not works? Can his faith save him? If a brother or sister is ill-clad and in lack of daily food, and one of you says to them, ‘Go in peace, be warmed and filled’, without giving them the things needed for the body, what does it profit? So faith by itself, if it has no works, is dead. But some one will say, ‘You have faith and I have works.’ Show me your faith apart from your works, and I by my works will show you my faith” (Jas 2:14-18).
Faith without charity bears no fruit, while charity without faith would be a sentiment constantly at the mercy of doubt. Faith and charity each require the other, in such a way that each allows the other to set out along its respective path. Indeed, many Christians dedicate their lives with love to those who are lonely, marginalized or excluded, as to those who are the first with a claim on our attention and the most important for us to support, because it is in them that the reflection of Christ’s own face is seen. Through faith, we can recognize the face of the risen Lord in those who ask for our love. “As you did it to one of the least of these my brethren, you did it to me” (Mt 25:40). These words are a warning that must not be forgotten and a perennial invitation to return the love by which he takes care of us. It is faith that enables us to recognize Christ and it is his love that impels us to assist him whenever he becomes our neighbour along the journey of life. Supported by faith, let us look with hope at our commitment in the world, as we await “new heavens and a new earth in which righteousness dwells” (2 Pet 3:13; cf. Rev 21:1).
15. Having reached the end of his life, Saint Paul asks his disciple Timothy to “aim at faith” (2 Tim 2:22) with the same constancy as when he was a boy (cf. 2 Tim 3:15). We hear this invitation directed to each of us, that none of us grow lazy in the faith. It is the lifelong companion that makes it possible to perceive, ever anew, the marvels that God works for us. Intent on gathering the signs of the times in the present of history, faith commits every one of us to become a living sign of the presence of the Risen Lord in the world. What the world is in particular need of today is the credible witness of people enlightened in mind and heart by the word of the Lord, and capable of opening the hearts and minds of many to the desire for God and for true life, life without end.
“That the word of the Lord may speed on and triumph” (2 Th 3:1): may this Year of Faith make our relationship with Christ the Lord increasingly firm, since only in him is there the certitude for looking to the future and the guarantee of an authentic and lasting love. The words of Saint Peter shed one final ray of light on faith: “In this you rejoice, though now for a little while you may have to suffer various trials, so that the genuineness of your faith, more precious than gold which though perishable is tested by fire, may redound to praise and glory and honour at the revelation of Jesus Christ. Without having seen him you love him; though you do not now see him you believe in him and rejoice with unutterable and exalted joy. As the outcome of your faith you obtain the salvation of your souls” (1 Pet 1:6-9). The life of Christians knows the experience of joy as well as the experience of suffering. How many of the saints have lived in solitude! How many believers, even in our own day, are tested by God’s silence when they would rather hear his consoling voice! The trials of life, while helping us to understand the mystery of the Cross and to participate in the sufferings of Christ (cf. Col 1:24), are a prelude to the joy and hope to which faith leads: “when I am weak, then I am strong” (2 Cor 12:10). We believe with firm certitude that the Lord Jesus has conquered evil and death. With this sure confidence we entrust ourselves to him: he, present in our midst, overcomes the power of the evil one (cf. Lk 11:20); and the Church, the visible community of his mercy, abides in him as a sign of definitive reconciliation with the Father.
Let us entrust this time of grace to the Mother of God, proclaimed “blessed because she believed” (Lk 1:45).
Given in Rome, at Saint Peter’s, on 11 October in the year 2011, the seventh of my Pontificate.
BENEDICTUS PP. XVI
(TÓM LƯỢC VÀ DỰ ÁN TRONG NĂM ĐỨC TIN CỦA HĐGM VN)
NĂM ĐỨC TIN (11.10.2012 – 24.11.2013)
A. Tóm lược Tự Sắc "CỬA ĐỨC TIN" (với văn bản này, ĐTC Bênêđitô XVI công bố Năm Đức Tin) Bảng tóm lược này nhằm giúp các linh mục tổ chức cho các cộng đoàn giáo xứ, các giới, các tổ chức mục vụ, các tổ chức và phong trào tông đồ giáo dân, học hỏi Tự Sắc và đưa vào đời sống giáo hội, đặc biệt trong Năm Đức Tin.
1. "Cửa Đức Tin" là cánh cửa đưa người tín hữu đi vào hiệp thông với Thiên Chúa là Tình Yêu, với Hội Thánh là mẹ hiền. Là cửa ngõ đưa các kẻ tin vào hành trình đức tin bắt đầu từ ngày lãnh bí tích Thánh Tẩy (x.Rom 6,4) cho đến hơi thở cuối cùng.
1. "Cửa Đức Tin" là cánh cửa đưa người tín hữu đi vào hiệp thông với Thiên Chúa là Tình Yêu, với Hội Thánh là mẹ hiền. Là cửa ngõ đưa các kẻ tin vào hành trình đức tin bắt đầu từ ngày lãnh bí tích Thánh Tẩy (x.Rom 6,4) cho đến hơi thở cuối cùng.
2. Hành trình đức tin dẫn đến gặp gỡ Chúa Giêsu Phục Sinh, đón nhận ơn Chúa Thánh Thần, giúp người tín hữu tiến bước đi đến cội nguồn ánh sáng chân lý và tình yêu: - Chân lý về Thiên Chúa Tình Yêu với kế hoạch yêu thương cứu độ gia đình nhân loại. - Chân lý về Đức Giêsu Kitô với con đường tình yêu dẫn đến nguồn sống mới. - Chân lý về ơn Chúa Thánh Thần đổi mới lòng trí cùng tầm nhìn hẹp hòi của con người, soi đường dẫn lối đi đến nguồn sống mới của Chúa Giêsu Phục Sinh. - Chân lý về Hội Thánh Chúa Giêsu thông truyền Lời Chúa là Lời ban ánh sáng chân lý và tình yêu.
3. - Chân lý về con người với lòng khao khát tìm đến nguồn nước hằng sống là Đức Giêsu Kitô. (xem Ga 4,14, và câu chuyện người phụ nữ Xamari bên bờ giếng Giacóp)
4. Ý nghĩa Năm Đức Tin: - 11.10.2012: kỷ niệm 50 năm khai mạc Công Đồng Vatican II; - 24.11.2013: kỷ niệm 20 năm công bố Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo; - thời gian toàn thể Giáo Hội nói lên lời tuyên xưng đức tin đích thực và chân thành, về một Đức Tin, và bày tỏ quyết tâm ngày càng sống trọn vẹn và tỏa sáng hồng ân đức tin.
5. Khám phá lại Công Đồng Vatican II như hồng ân Thiên Chúa ban cho Giáo Hội trong thế kỷ 20. Nếu được hướng dẫn bởi một khoa chú giải đúng, giáo huấn CĐ Vat.II có thể trở nên một sức mạnh lớn lao cho việc canh tân đổi mới Giáo Hội, một việc làm luôn cần thiết (x. Diễn từ của ĐTC Bênêđitô XVI, ngày 22.12.2005)
6. Việc canh tân Giáo Hội được thực hiện qua chứng tá các kitô hữu, là những người được kêu gọi làm sáng tỏ Lời Đức Giêsu đã để lại, là Lời ban ánh sáng chân lý và tình yêu, ban sức sống mới và bình an. Trong viễn tượng này, Năm Đức Tin là lời mời gọi trở về với Đức Giêsu Kitô cùng Lời Ngài dạy, để được canh tân đổi mới. Nói cách khác, công cuộc canh tân đổi mới đời sống cần đi qua con đường Phúc Âm hóa đời sống, đưa những giá trị Tin Mừng vào trong suy nghĩ và hành động của con người (x. Rom 12, 2; Cl 3, 9-10; Eph 4, 20; 2Cor 5, 17).
7. "Đức ái thúc bách tôi" (2 Cor 5,14) ra đi loan báo Tin Mừng Đức Giêsu Kitô. Đức tin sẽ ngày càng lớn mạnh: - khi được sống như một cảm nghiệm của một tình yêu đã lãnh nhận, - khi được truyền thông như một kinh nghiệm về hồng ân Thiên Chúa thương ban.
8. Các Giám mục sẽ có cơ hội cùng cộng đoàn tín hữu tuyên xưng đức tin vào Đức Kitô trong các nhà thờ chánh tòa cùng các nhà thờ khác trên thế giới.
9. Cùng nhau tuyên xưng đức tin cách trọn vẹn, với một xác tín được đổi mới, với tín thác và hy vọng, giúp cho cộng đoàn dân Chúa tái khám phá nội dung đức tin được tuyên xưng, được cử hành, được sống và cầu nguyện.
10. "Với con tim, người ta tin, và với môi miệng, người ta tuyên xưng..." (Rom 10.10). Hành vi tự do đi đôi với trách nhiệm xã hội về những điều ta tin, trách nhiệm làm chứng nhân đức tin, đặc biệt cho nhiều người thành tâm tìm kiếm chân lý chung cuộc về sự hiện hữu của con người cùng thế giới. Đức Giêsu Kitô làm người ở giữa cõi nhân sinh, tự bày tỏ Ngài là Sự Thật chung cuộc đó, và là Đường dẫn đến cội nguồn sự sống mới và tình yêu mới.
11. Sách Giáo lý của Hội Thánh Công Giáo, thành quả quan trọng của CĐ Vatican II, là nội dung nền tảng của Đức Tin, giúp mở rộng kiến thức đức tin cách có hệ thống và cách đầy đủ cho đời sống đức tin của các tín hữu.
12. Do đó Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo là một công cụ nâng đỡ Đức Tin, đặc biệt trong môi trường xã hội tục hóa và khoa học kỹ thuật hôm nay.
13. Nhìn lại lịch sử của Đức Tin, cũng là nhìn về Đức Kitô, "Đấng đem lại nguồn gốc cho Đức Tin và đem Đức Tin tới mức thành toàn" (Dt 12,2). Trong Ngài, mọi biến cố, mọi mong đợi của con tim, đạt tới mức thành toàn. Các tấm gương sống đức tin trong lịch sử: Đức Maria mẹ các kẻ tin; các Tông đồ, các thánh, các vị Tử Đạo, các vị sống đời thánh hiến, các kitô hữu, thuộc mọi lứa tuổi...
14. Đức tin không có việc làm là đức tin chết (x.Gc 2,14-18). Trong ba thực tại, Tin, Cậy, Mến, Đức Ái là thực tại lớn lao nhất" (x.1Cor 13,13). Những gì làm cho người anh em bé nhỏ nhất, là làm cho chính Chúa Giêsu (x.Mt,25,40).
15. Chớ gì Năm Đức Tin làm cho mối tương quan với Đức Kitô thêm kiên vững. Chỉ nơi Ngài mới có bảo đảm cho một tình yêu thương chân thực và lâu bền trong đời sống con người, mới có sự chắc chắn về một tương lai tốt đẹp cho gia đình nhân loại.
B. CHỈ DẪN MỤC VỤ CỦA BỘ GIÁO LÝ ĐỨC TIN
I. Ý nghĩa: 11.10.2012: Kỷ niệm 50 năm (1962-2012) Đức Gioan XXIII khai mạc CĐ Vatican II
24.11.2013: Kỷ niệm 20 năm (1992-2012) Đức Gioan Phaolô II ban hành Sách GL.HTCG
24.11.2013: Kỷ niệm 20 năm (1992-2012) Đức Gioan Phaolô II ban hành Sách GL.HTCG
II. Mục đích: 1. Tạo điều kiện và cơ hội cho mọi người gặp gỡ Đức Kitô
2. Hiểu biết đầy đủ hơn nội dung Đức Tin.
2. Hiểu biết đầy đủ hơn nội dung Đức Tin.
III. Cấp GH toàn cầu: 1. Hành hương Roma, Thánh Địa, - gặp gỡ Đức Kitô...
2. Phát huy lòng tôn sùng Thánh Mẫu Maria, các thánh. ..
3. Nhìn lại CĐ Vat II, Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo PC. CĐ Vat. II với 4 Hiến chế: Lumen Gentium, Dei Verbum, Sacrosanctum Concilium, Gaudium Spes; - 9 Sắc lệnh: GM, LM, ĐTạo, DTu, GDân, Tr Giáo, Hiệp Nhất, Đông Phương, Tr Thông - 3 Tuyên ngôn: Tự Do, Đối Thoại, Giáo Dục
2. Phát huy lòng tôn sùng Thánh Mẫu Maria, các thánh. ..
3. Nhìn lại CĐ Vat II, Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo PC. CĐ Vat. II với 4 Hiến chế: Lumen Gentium, Dei Verbum, Sacrosanctum Concilium, Gaudium Spes; - 9 Sắc lệnh: GM, LM, ĐTạo, DTu, GDân, Tr Giáo, Hiệp Nhất, Đông Phương, Tr Thông - 3 Tuyên ngôn: Tự Do, Đối Thoại, Giáo Dục
IV. Cấp HĐGM: 1. Dành một ngày học hỏi về Đức Tin, làm chứng cho Đức Tin và thông truyền Đức Tin
2. Phổ biến các văn kiện CĐ Vat II, Sách GL.HTCG, sách về chứng nhân đức tin...
3. Xem lại sách GL địa phương, việc dạy GL đặc biệt cho giới trẻ...
4. Thường huấn LM, nhìn lại định hướng và việc thực hành, sám hối, đổi mới...
5. Tổ chức những cuộc gặp gỡ, đối thoại, về những vấn đề tục hóa, tương đối hóa...
2. Phổ biến các văn kiện CĐ Vat II, Sách GL.HTCG, sách về chứng nhân đức tin...
3. Xem lại sách GL địa phương, việc dạy GL đặc biệt cho giới trẻ...
4. Thường huấn LM, nhìn lại định hướng và việc thực hành, sám hối, đổi mới...
5. Tổ chức những cuộc gặp gỡ, đối thoại, về những vấn đề tục hóa, tương đối hóa...
V. Cấp giáo phận: 1. Cử hành Đức Tin: HĐGM.VN ấn định ngày khai mạc: - Cấp giáo phận: Thứ Năm 18.10. 2012, - Cấp giáo xứ: Chúa Nhật 21.10. 2012, Bế mạc Năm Đức Tin: trước thời điểm 24.11.2013. Vào những thời điểm trên, cần nhìn lại những sai sót, những bất cập trong đời sống đức tin để sám hối, hòa giải, đổi mới. (Các hạt góp ý: ấn định các lễ trọng, tổ chức Tam Nhật trước lễ trọng; Kinh chung cho Năm ĐT)
2. Thư Mục Vụ nhắc lại tầm quan trọng của CĐ Vat.II và Sách GL.HTCG
3. Kiểm điểm việc tiếp nhận giáo huấn CĐ Vat.II, Sách GL.HTCG
4. Ban Giáo Lý Đức Tin lo xem lại việc huấn luyện Giáo Lý Viên (Các hạt góp ý: thống nhất định hướng)
5. Thường huấn linh mục về Công Đồng Vat II, Sách GL.HTCG Cùng nhau nhìn lại định hướng và thực hành giáo huấn của GH, và cùng nhau tìm cách cùng điều chỉnh và bổ sung những sai sót...
6. Hội thảo "Đức Tin và Khoa Học đều hướng về chân lý...
2. Thư Mục Vụ nhắc lại tầm quan trọng của CĐ Vat.II và Sách GL.HTCG
3. Kiểm điểm việc tiếp nhận giáo huấn CĐ Vat.II, Sách GL.HTCG
4. Ban Giáo Lý Đức Tin lo xem lại việc huấn luyện Giáo Lý Viên (Các hạt góp ý: thống nhất định hướng)
5. Thường huấn linh mục về Công Đồng Vat II, Sách GL.HTCG Cùng nhau nhìn lại định hướng và thực hành giáo huấn của GH, và cùng nhau tìm cách cùng điều chỉnh và bổ sung những sai sót...
6. Hội thảo "Đức Tin và Khoa Học đều hướng về chân lý...
VI. Cấp giáo xứ, cộng đoàn, hiệp hội, phong trào: 1. Đọc và suy niệm Tông Thư "Cửa Đức Tin" (Porta Fidei)
2. Đức Tin và bí tích Thánh Thể là Mầu Nhiệm Đức Tin
3. Đưa ánh sáng CĐ Vat II và GL.HTCG vào trong công việc mục vụ giáo xứ
4. Đưa vào đời sống và sứ vụ Giáo lý viên
5. Phổ biến GL.HTCG vào mọi dịp hội họp, gặp gỡ, cử hành... (Các hạt góp ý: Cần học GL sau Thêm Sức; hạt tổ chức thi GL trong Hạt...)
6. Giáo dục đức tin, cử hành đức tin trong gia đình là GH tại gia...
7. Giúp người tín hữu sống và thể hiện bản chất của mình là truyền giáo, PÂ hóa... (Các hạt góp ý: giáo dân cần được huấn luyện cho việc PÂ hóa đời sống...)
8. Cộng đoàn tu, sống đời thánh hiến: PÂ hóa đời sống ơn gọi và sứ vụ loan TM..
9. Các tổ chức và phong trào tông đồ giáo dân: PÂ hóa đời sống, làm chứng nhân đức tin
10. Mọi tín hữu chia sẻ với mọi người trong xã hội, kinh nghiệm sống đức tin, kinh nghiệm PÂ hóa đời sống, góp phần vào sự phát triển toàn diện sự sống con người... (các hạt góp ý: - cần có chủ đề hàng tháng cho việc sống đức tin; - phát huy vai trò của Ban MV Truyền thông trong việc giáo dục đức tin) PC. Đề nghị các Ban Mục Vụ giáo phận phối hợp, phân công, giúp thực hiện những chỉ dẫn trên.
2. Đức Tin và bí tích Thánh Thể là Mầu Nhiệm Đức Tin
3. Đưa ánh sáng CĐ Vat II và GL.HTCG vào trong công việc mục vụ giáo xứ
4. Đưa vào đời sống và sứ vụ Giáo lý viên
5. Phổ biến GL.HTCG vào mọi dịp hội họp, gặp gỡ, cử hành... (Các hạt góp ý: Cần học GL sau Thêm Sức; hạt tổ chức thi GL trong Hạt...)
6. Giáo dục đức tin, cử hành đức tin trong gia đình là GH tại gia...
7. Giúp người tín hữu sống và thể hiện bản chất của mình là truyền giáo, PÂ hóa... (Các hạt góp ý: giáo dân cần được huấn luyện cho việc PÂ hóa đời sống...)
8. Cộng đoàn tu, sống đời thánh hiến: PÂ hóa đời sống ơn gọi và sứ vụ loan TM..
9. Các tổ chức và phong trào tông đồ giáo dân: PÂ hóa đời sống, làm chứng nhân đức tin
10. Mọi tín hữu chia sẻ với mọi người trong xã hội, kinh nghiệm sống đức tin, kinh nghiệm PÂ hóa đời sống, góp phần vào sự phát triển toàn diện sự sống con người... (các hạt góp ý: - cần có chủ đề hàng tháng cho việc sống đức tin; - phát huy vai trò của Ban MV Truyền thông trong việc giáo dục đức tin) PC. Đề nghị các Ban Mục Vụ giáo phận phối hợp, phân công, giúp thực hiện những chỉ dẫn trên.
C. NHÌN LẠI HÀNH TRÌNH ĐỨC TIN
1. Mục đích của Năm Đức Tin. Đức Thánh Cha Bênêđitô XVI ấn định cho Giáo Hội Công Giáo cử hành Năm Đức Tin từ 11.10. 2012 đến 24.11. 2013. Mục đích chính là nhằm tạo điều kiện cho người công giáo ở khắp năm châu nhìn lại đời sống đức tin của mình trong bối cảnh văn hóa xã hội hôm nay, tìm cách bổ sung những thiếu sót và bất cập, điều chỉnh những méo mó và lệch lạc, hướng đến sống hồng ân đức tin ngày càng trung thực và trọn vẹn, mở đường cho hồng ân đức tin ngày càng tỏa sáng trong môi trường văn hóa và xã hội, kinh tế và chính trị trên thế giới cũng như tại đất nước Việt Nam hôm nay.
2. Nhìn lại hồng ân đức tin trong dòng lịch sử. Từ gần 5 thế kỷ nay, qua các nhà truyền giáo, Thiên Chúa là Cha trên trời, đã yêu thương gieo hạt mầm đức tin trên đất nước VN. Nhờ mồ hôi cùng máu đào các nhà truyền giáo, các tiền nhân và chứng nhân đức tin, thửa đất đó đã được khai hoang và trở nên màu mỡ. Nhờ các thế hệ tín hữu đã dày công vun tưới, chăm sóc, bảo vệ, bằng đời sống chuyên cần cầu nguyện, bác ái và quảng đại hy sinh, những hạt mầm đức tin phát triển và đơm bông kết trái như hôm nay. Thế nhưng, cũng từ đó đến nay, xã hội đất nước cùng gia đình nhân loại không ngừng chuyển biến và đổi thay, bao nhiêu biến cố lịch sử để lại những dấu ấn cùng những vấn đề nghiêm trọng trong xã hội, tác động làm cho đời sống đức tin của nhiều người, cách riêng người trẻ, hoặc bị đóng băng, bị xói mòn, sai lệch, hoặc trở nên hụt hẫng, bất cập... Các nhà giáo dục đức tin cần chung lòng chung sức suy nghĩ và tìm ra biện pháp giải tỏa tình trạng nêu trên, khai mở cho mọi người con đường bước theo Chúa Giêsu Kitô, dẫn đến nguồn sống dồi dào trong yêu thương và an bình.
3. Nhìn lại việc tuyên xưng đức tin. Lời tuyên xưng đức tin bày tỏ quyết tâm làm theo lời Chúa dạy “cởi bỏ con người cũ, và mặc lấy con người mới: (1) Cởi bỏ con người cũ có nghĩa là quyết tâm trong mọi hoàn cảnh, không nghe theo, không chạy theo sự lôi cuốn, quyến rũ, dụ dỗ của ma quỷ, xác thịt, thế gian, - vì lẽ ma quỷ là đầu mối mọi sự dữ và sự xấu trong đời sống nhân loại, - vì xác thịt mang nặng đam mê mù quáng của lòng tham sân si cùng tính đối kháng cố hữu của bản năng tự vệ khép kín, - vì thế gian với những thói đời mang tính bất cập, thường liên minh với xác thịt làm phát sinh nhiều tệ nạn cùng bất công trong xã hội. (2) Mặc lấy con người mới có nghĩa là quyết tâm mọi lúc tin vào và gắn bó với Ba Ngôi Thiên Chúa cùng Giáo Hội Chúa Kitô: - gắn bó với Thiên Chúa là Cha trên trời, tìm và thi hành ý Cha mong muốn cho mọi người sống dồi dào; - gắn bó với Chúa Giêsu Kitô, trung thành bước theo Ngài trên con đường tình yêu cứu độ (hội nhập, dấn thân phục vụ, quảng đại hiến thân, đổi mới) dẫn đến nguồn sống mới, là nguồn sống dồi dào; - gắn bó và ý thức cộng tác với ơn Chúa Thánh Thần thánh hóa và đổi mới người tín hữu nên người mới theo hình mẫu Chúa Kitô, soi dẫn cho họ bước theo con đường đi đến nguồn sống mới của Chúa Kitô; - gắn bó và hiệp thông với Giáo Hội Chúa Kitô, trung thành thực hành giáo huấn của Giáo Hội triển khai Lời Chúa là Lời ban ánh sáng chân lý cùng tình yêu, ánh sáng bình an cùng sức sống mới của Chúa Kitô. Các nhà giáo dục đức tin cần tạo cơ hội cho mọi người công giáo, mọi thành phần cùng mọi tổ chức trong Giáo Hội, nhìn lại lối sống hôm nay có trung thành với lời hứa, với quyết tâm đó đến đâu? Đâu là những sai sót, khó khăn, thử thách? Cần làm gì nhằm tạo điều kiện cho mọi người biến mọi sự thành cơ hội củng cố đời sống đức tin, và tiến bước đi đến nguồn sống mới của Chúa Kitô?
4. Nhìn lại việc dạy giáo lý cùng cử hành đức tin. Dạy giáo lý và cử hành đức tin đều có mục đích mở rộng kiến thức đức tin và nâng cao ý thức đức tin, giáo dục người tín hữu, tạo khả năng và cơ hội cho họ: (1) sống trọn tình hiếu thảo với Thiên Chúa là Cha giàu lòng từ bi nhân hậu, luôn tìm và thi hành ý Ngài; (2) sống vẹn nghĩa huynh đệ hiệp thông và hợp nhất với anh em đồng đạo trong Giáo Hội là con một Cha; (3) mở rộng tình huynh đệ đồng cảm và chia sẻ với đồng bào và đồng loại là anh em một nhà. Sống trọn vẹn ba mối tình đó là xây dựng cuộc đời, gia đình, cộng đoàn, trên nền đá vững chắc là Lời Chúa. Được xây mới trên nền móng Lời Chúa theo chỉ dẫn thống nhất của Đại Hội Dân Chúa VN năm 2010 và Công Nghị giáo phận năm 2011, gia đình, cộng đoàn tín hữu từng bước trở nên Giáo Hội Mầu Nhiệm, Giáo Hội Hiệp Thông, Giáo Hội Sứ Vụ, theo như Giáo Hội cùng Công Đồng Vatican II đã dạy. Giới hữu trách cần cùng nhau nhìn lại việc dạy giáo lý và việc cử hành đức tin có tạo khả năng cho mọi người sống tình mến Chúa yêu người theo như Lời Chúa dạy không? Có giúp cho người công giáo ý thức mở rộng cả hai van tim của lòng đạo, lòng tin, một van để đón nhận mọi hồng ân Thiên Chúa thương ban, van kia để chia sẻ những hồng ân đó cho mọi người trong gia đình, trong cộng đoàn, trong xã hội? Hay chỉ theo lối mòn xưa nay với những luật lệ và công thức cố định chỉ nhằm giúp họ giữ đạo và bảo vệ đạo? Trong công cuộc giáo dục đức tin hiện nay, có cần cùng nhau xác định rõ mục tiêu và định hướng giáo dục đức tin, hoàn chỉnh nội dung chương trình theo định hướng đã thống nhất? Có cần cải tiến cách tổ chức và điều hành, cách phân công và phối hợp nhân sự cùng những sáng kiến xưa nay, cũng như cách giáo dục đối với các lớp tuổi sống trong những hoàn cảnh khác nhau..., nhằm giúp cho việc dạy giáo lý, cử hành đức tin mang lại hiệu quả mong muốn, là người tín hữu có điều kiện sống đức tin ngày càng trung thực và trọn vẹn, mở đường cho hồng ân đức tin ngày càng tỏa sáng trong môi trường xã hội hôm nay?...
5. Nhìn lại việc sống đức tin. Hồng ân đức tin soi dẫn cho người tín hữu làm theo lời ĐTC Bênêđitô XVI nhắc nhở dân Chúa hãy Phúc Âm hóa đời sống và bổn phận thường ngày của mình. Nghĩa là ý thức đưa ánh sáng chân lý cùng sức sống mới của Lời Chúa vào trong việc tu thân luyện đức và giáo dục, vào trong việc tề gia là chăm lo cho gia đình cùng cộng đoàn, vào trong việc trị quốc là quản trị một tổ chức, một cộng đoàn, nhằm mang lại sự an bình cho người người, sự an lành cho nhà nhà. Phúc Âm hóa sẽ giúp cho người tín hữu thi hành những bổn phận thường ngày vừa thuận ý trời (thiên thời), vừa hợp với giáo huấn của Giáo Hội cùng truyền thống văn hóa và đạo đức của dân tộc (địa lợi), vừa hòa với lòng nhân, lòng đạo, lòng tin của con người (nhân hòa). Thực tế cuộc sống cho thấy người tín hữu sống hồng ân đức tin trong bổn phận thường ngày như thế nào? Ý thức đi theo ánh sáng chân lý và tình yêu của Chúa Kitô, hay chỉ vô ý thức theo lối mòn của khung nếp xưa nay vốn mang tính bất cập? Vài thí dụ về những vấn đề nảy sinh trong xã hội hôm nay: (a) Hồng ân đức tin giúp cho người tín hữu xác tín rằng: Thiên Chúa là Cha trên trời mong muốn con người dùng nguồn lực của tình yêu thương đồng cảm và bao dung, quảng đại dấn thân phục vụ, hy sinh, cùng với tinh thần trách nhiệm liên đới, để chung sức đẩy lùi mọi sự dữ cùng mọi tệ nạn và bất công trong xã hội, canh tân đổi mới và thăng tiến đời sống nhân loại. Thói người đời thường dùng cường lực cùng bạo lực, với thái độ đối đầu, đối phó và loại trừ nhau. Thực tế cuộc sống cho thấy người tín hữu thường ứng xử theo hướng nào? Ý thức theo ý Chúa là Cha từ bi nhân hậu, hay chỉ theo thói thế gian? (b) Hồng ân đức tin khai sáng cho người tín hữu nhận ra rằng: sự sống, tình yêu, hôn nhân, gia đình, là quà tặng của Thiên Chúa tình yêu, và người đón nhận quà tặng có bổn phận hiếu thảo đáp trả lại tình thương của Cha trên trời bằng nỗ lực bảo vệ quà tặng đó, xây đắp đời sống hôn nhân gia đình thành cái nôi của sự sống, mái ấm của tình thương, ngôi trường đầu tiên giáo dục con cái nên người con hiếu thảo đối với Cha trên trời, ý thức sống tình huynh đệ đối với đồng bào, đồng loại, góp phần xây đắp nền văn minh tinh thương, vì sự phát triển và thăng tiến của gia đình nhân loại. Luật lệ trong thế gian lại coi việc kết hôn và ly dị, việc sinh con và phá thai, việc kết hôn với người khác phái hay đồng phái, là thuộc quyền tự do của con người...Thực tế cuộc sống cho thấy người tín hữu thường ứng xử theo hướng nào? Theo bổn phận làm con hiếu thảo đối với Cha trên trời, hay chỉ giản đơn theo quan điểm con người làm chủ cuộc đời mình, không có người chủ hay truyền thống đạo lý nào khác ngoài ý muốn của mình?
6. Nhìn lại việc chia sẻ hồng ân đức tin. Đức tin không có việc làm là đức tin chết (x.Gc 2, 14-18). Hồng ân đức tin đi đôi với trách nhiệm xã hội về những điều mình tin. Trách nhiệm đó là trách nhiệm làm chứng cho niềm tin, làm cho hồng ân đức tin tỏa sáng trong môi trường xã hội và nghề nghiệp, đưa những giá trị Tin Mừng, giá trị nhân bản và đạo đức, vào trong đời sống văn hóa xã hội, kinh tế, chính trị. Nhằm góp phần làm cho nền giáo dục trên đất nước trở nên nhân bản và toàn diện hơn. Làm cho hệ thống luật lệ trở nên vị nhân sinh hơn, tôn trọng nhân quyền và nhân phẩm hơn. Làm cho đời sống xã hội trở nên trung thực và công bằng hơn, cùng chan hòa tình người và bác ái vị tha. Đặc biệt là làm cho việc tề gia và trị quốc trở nên thiên thời, địa lợi, nhân hòa hơn. Nhờ đó, nhà nhà được an lành, đất nước được an bình. Các thành phần, các giới công giáo, nhà trí thức, nhà thầy thuốc, nhà giáo, nhà buôn, nhà truyền thông, nhà hoạt động xã hội…, trước tiên cần nhìn lại xem mình đã xây những ngôi nhà đó trên nền đá vững chắc là Lời Chúa đến đâu ? Đã làm cho Lời Chúa dạy tỏa ra ánh sáng chân lý và tình yêu của Chúa trong môi trường xã hội đến đâu ? Nhiều người thành tâm tìm kiếm chân lý chung cuộc về sự hiện hữu của mình. Và Chúa Giêsu đã tự bày tỏ là Sự Thật chung cuộc đó, là Đường dẫn đến cội nguồn sự sống mới chan hòa yêu thương và bình an.
7. Năm Đức Tin là cơ hội cho mọi người đảm trách việc giáo dục đức tin, hội ý với nhau, tìm cách tạo thuận lợi cho các gia đình, cho cộng đoàn tín hữu, các tổ chức mục vụ cùng các tổ chức tông đồ giáo dân, đặc biệt là cho người trẻ, cùng nhau nhìn lại hiện trạng đời sống đức tin, hỗ trợ nhau mở rộng kiến thức đức tin và nâng cao ý thức đức tin, nhắc nhở nhau quan tâm cộng tác với ơn Chúa Thánh Thần khai thông, bổ sung, đổi mới, hoàn thiện đời sống đức tin, theo như lòng Chúa mong muốn và lòng người mong đợi. 8. Kết. Chuyên cần cầu nguyện vừa là nguồn nước trong lành vun tưới cho hạt mầm đức tin phát triển và đơm bông kết trái. Vừa là bí quyết thành công trong công việc giáo dục đức tin, cũng như trong công việc xây mới ngôi nhà Giáo Hội trên nền đá vững chắc là Lời Chúa, xây nên Giáo Hội Mầu Nhiệm -Hiệp Thông -Sứ Vụ, nơi đó người tín hữu có điều kiện và cơ hội sống trọn vẹn và tỏa sáng hồng ân đức tin. Xin mọi người, mọi gia đình, mọi cộng đoàn, không ngừng cầu nguyện cho nhau, cho các nhà giáo dục đức tin, cho tôi, biết sử dụng thời gian Năm Đức Tin như quà tặng của Cha trên trời, vì sự sống dồi dào, vì sự phát triển và thăng tiến cộng đồng dân Chúa cùng cộng đồng nhân loại hôm nay.
1. Mục đích của Năm Đức Tin. Đức Thánh Cha Bênêđitô XVI ấn định cho Giáo Hội Công Giáo cử hành Năm Đức Tin từ 11.10. 2012 đến 24.11. 2013. Mục đích chính là nhằm tạo điều kiện cho người công giáo ở khắp năm châu nhìn lại đời sống đức tin của mình trong bối cảnh văn hóa xã hội hôm nay, tìm cách bổ sung những thiếu sót và bất cập, điều chỉnh những méo mó và lệch lạc, hướng đến sống hồng ân đức tin ngày càng trung thực và trọn vẹn, mở đường cho hồng ân đức tin ngày càng tỏa sáng trong môi trường văn hóa và xã hội, kinh tế và chính trị trên thế giới cũng như tại đất nước Việt Nam hôm nay.
2. Nhìn lại hồng ân đức tin trong dòng lịch sử. Từ gần 5 thế kỷ nay, qua các nhà truyền giáo, Thiên Chúa là Cha trên trời, đã yêu thương gieo hạt mầm đức tin trên đất nước VN. Nhờ mồ hôi cùng máu đào các nhà truyền giáo, các tiền nhân và chứng nhân đức tin, thửa đất đó đã được khai hoang và trở nên màu mỡ. Nhờ các thế hệ tín hữu đã dày công vun tưới, chăm sóc, bảo vệ, bằng đời sống chuyên cần cầu nguyện, bác ái và quảng đại hy sinh, những hạt mầm đức tin phát triển và đơm bông kết trái như hôm nay. Thế nhưng, cũng từ đó đến nay, xã hội đất nước cùng gia đình nhân loại không ngừng chuyển biến và đổi thay, bao nhiêu biến cố lịch sử để lại những dấu ấn cùng những vấn đề nghiêm trọng trong xã hội, tác động làm cho đời sống đức tin của nhiều người, cách riêng người trẻ, hoặc bị đóng băng, bị xói mòn, sai lệch, hoặc trở nên hụt hẫng, bất cập... Các nhà giáo dục đức tin cần chung lòng chung sức suy nghĩ và tìm ra biện pháp giải tỏa tình trạng nêu trên, khai mở cho mọi người con đường bước theo Chúa Giêsu Kitô, dẫn đến nguồn sống dồi dào trong yêu thương và an bình.
3. Nhìn lại việc tuyên xưng đức tin. Lời tuyên xưng đức tin bày tỏ quyết tâm làm theo lời Chúa dạy “cởi bỏ con người cũ, và mặc lấy con người mới: (1) Cởi bỏ con người cũ có nghĩa là quyết tâm trong mọi hoàn cảnh, không nghe theo, không chạy theo sự lôi cuốn, quyến rũ, dụ dỗ của ma quỷ, xác thịt, thế gian, - vì lẽ ma quỷ là đầu mối mọi sự dữ và sự xấu trong đời sống nhân loại, - vì xác thịt mang nặng đam mê mù quáng của lòng tham sân si cùng tính đối kháng cố hữu của bản năng tự vệ khép kín, - vì thế gian với những thói đời mang tính bất cập, thường liên minh với xác thịt làm phát sinh nhiều tệ nạn cùng bất công trong xã hội. (2) Mặc lấy con người mới có nghĩa là quyết tâm mọi lúc tin vào và gắn bó với Ba Ngôi Thiên Chúa cùng Giáo Hội Chúa Kitô: - gắn bó với Thiên Chúa là Cha trên trời, tìm và thi hành ý Cha mong muốn cho mọi người sống dồi dào; - gắn bó với Chúa Giêsu Kitô, trung thành bước theo Ngài trên con đường tình yêu cứu độ (hội nhập, dấn thân phục vụ, quảng đại hiến thân, đổi mới) dẫn đến nguồn sống mới, là nguồn sống dồi dào; - gắn bó và ý thức cộng tác với ơn Chúa Thánh Thần thánh hóa và đổi mới người tín hữu nên người mới theo hình mẫu Chúa Kitô, soi dẫn cho họ bước theo con đường đi đến nguồn sống mới của Chúa Kitô; - gắn bó và hiệp thông với Giáo Hội Chúa Kitô, trung thành thực hành giáo huấn của Giáo Hội triển khai Lời Chúa là Lời ban ánh sáng chân lý cùng tình yêu, ánh sáng bình an cùng sức sống mới của Chúa Kitô. Các nhà giáo dục đức tin cần tạo cơ hội cho mọi người công giáo, mọi thành phần cùng mọi tổ chức trong Giáo Hội, nhìn lại lối sống hôm nay có trung thành với lời hứa, với quyết tâm đó đến đâu? Đâu là những sai sót, khó khăn, thử thách? Cần làm gì nhằm tạo điều kiện cho mọi người biến mọi sự thành cơ hội củng cố đời sống đức tin, và tiến bước đi đến nguồn sống mới của Chúa Kitô?
4. Nhìn lại việc dạy giáo lý cùng cử hành đức tin. Dạy giáo lý và cử hành đức tin đều có mục đích mở rộng kiến thức đức tin và nâng cao ý thức đức tin, giáo dục người tín hữu, tạo khả năng và cơ hội cho họ: (1) sống trọn tình hiếu thảo với Thiên Chúa là Cha giàu lòng từ bi nhân hậu, luôn tìm và thi hành ý Ngài; (2) sống vẹn nghĩa huynh đệ hiệp thông và hợp nhất với anh em đồng đạo trong Giáo Hội là con một Cha; (3) mở rộng tình huynh đệ đồng cảm và chia sẻ với đồng bào và đồng loại là anh em một nhà. Sống trọn vẹn ba mối tình đó là xây dựng cuộc đời, gia đình, cộng đoàn, trên nền đá vững chắc là Lời Chúa. Được xây mới trên nền móng Lời Chúa theo chỉ dẫn thống nhất của Đại Hội Dân Chúa VN năm 2010 và Công Nghị giáo phận năm 2011, gia đình, cộng đoàn tín hữu từng bước trở nên Giáo Hội Mầu Nhiệm, Giáo Hội Hiệp Thông, Giáo Hội Sứ Vụ, theo như Giáo Hội cùng Công Đồng Vatican II đã dạy. Giới hữu trách cần cùng nhau nhìn lại việc dạy giáo lý và việc cử hành đức tin có tạo khả năng cho mọi người sống tình mến Chúa yêu người theo như Lời Chúa dạy không? Có giúp cho người công giáo ý thức mở rộng cả hai van tim của lòng đạo, lòng tin, một van để đón nhận mọi hồng ân Thiên Chúa thương ban, van kia để chia sẻ những hồng ân đó cho mọi người trong gia đình, trong cộng đoàn, trong xã hội? Hay chỉ theo lối mòn xưa nay với những luật lệ và công thức cố định chỉ nhằm giúp họ giữ đạo và bảo vệ đạo? Trong công cuộc giáo dục đức tin hiện nay, có cần cùng nhau xác định rõ mục tiêu và định hướng giáo dục đức tin, hoàn chỉnh nội dung chương trình theo định hướng đã thống nhất? Có cần cải tiến cách tổ chức và điều hành, cách phân công và phối hợp nhân sự cùng những sáng kiến xưa nay, cũng như cách giáo dục đối với các lớp tuổi sống trong những hoàn cảnh khác nhau..., nhằm giúp cho việc dạy giáo lý, cử hành đức tin mang lại hiệu quả mong muốn, là người tín hữu có điều kiện sống đức tin ngày càng trung thực và trọn vẹn, mở đường cho hồng ân đức tin ngày càng tỏa sáng trong môi trường xã hội hôm nay?...
5. Nhìn lại việc sống đức tin. Hồng ân đức tin soi dẫn cho người tín hữu làm theo lời ĐTC Bênêđitô XVI nhắc nhở dân Chúa hãy Phúc Âm hóa đời sống và bổn phận thường ngày của mình. Nghĩa là ý thức đưa ánh sáng chân lý cùng sức sống mới của Lời Chúa vào trong việc tu thân luyện đức và giáo dục, vào trong việc tề gia là chăm lo cho gia đình cùng cộng đoàn, vào trong việc trị quốc là quản trị một tổ chức, một cộng đoàn, nhằm mang lại sự an bình cho người người, sự an lành cho nhà nhà. Phúc Âm hóa sẽ giúp cho người tín hữu thi hành những bổn phận thường ngày vừa thuận ý trời (thiên thời), vừa hợp với giáo huấn của Giáo Hội cùng truyền thống văn hóa và đạo đức của dân tộc (địa lợi), vừa hòa với lòng nhân, lòng đạo, lòng tin của con người (nhân hòa). Thực tế cuộc sống cho thấy người tín hữu sống hồng ân đức tin trong bổn phận thường ngày như thế nào? Ý thức đi theo ánh sáng chân lý và tình yêu của Chúa Kitô, hay chỉ vô ý thức theo lối mòn của khung nếp xưa nay vốn mang tính bất cập? Vài thí dụ về những vấn đề nảy sinh trong xã hội hôm nay: (a) Hồng ân đức tin giúp cho người tín hữu xác tín rằng: Thiên Chúa là Cha trên trời mong muốn con người dùng nguồn lực của tình yêu thương đồng cảm và bao dung, quảng đại dấn thân phục vụ, hy sinh, cùng với tinh thần trách nhiệm liên đới, để chung sức đẩy lùi mọi sự dữ cùng mọi tệ nạn và bất công trong xã hội, canh tân đổi mới và thăng tiến đời sống nhân loại. Thói người đời thường dùng cường lực cùng bạo lực, với thái độ đối đầu, đối phó và loại trừ nhau. Thực tế cuộc sống cho thấy người tín hữu thường ứng xử theo hướng nào? Ý thức theo ý Chúa là Cha từ bi nhân hậu, hay chỉ theo thói thế gian? (b) Hồng ân đức tin khai sáng cho người tín hữu nhận ra rằng: sự sống, tình yêu, hôn nhân, gia đình, là quà tặng của Thiên Chúa tình yêu, và người đón nhận quà tặng có bổn phận hiếu thảo đáp trả lại tình thương của Cha trên trời bằng nỗ lực bảo vệ quà tặng đó, xây đắp đời sống hôn nhân gia đình thành cái nôi của sự sống, mái ấm của tình thương, ngôi trường đầu tiên giáo dục con cái nên người con hiếu thảo đối với Cha trên trời, ý thức sống tình huynh đệ đối với đồng bào, đồng loại, góp phần xây đắp nền văn minh tinh thương, vì sự phát triển và thăng tiến của gia đình nhân loại. Luật lệ trong thế gian lại coi việc kết hôn và ly dị, việc sinh con và phá thai, việc kết hôn với người khác phái hay đồng phái, là thuộc quyền tự do của con người...Thực tế cuộc sống cho thấy người tín hữu thường ứng xử theo hướng nào? Theo bổn phận làm con hiếu thảo đối với Cha trên trời, hay chỉ giản đơn theo quan điểm con người làm chủ cuộc đời mình, không có người chủ hay truyền thống đạo lý nào khác ngoài ý muốn của mình?
6. Nhìn lại việc chia sẻ hồng ân đức tin. Đức tin không có việc làm là đức tin chết (x.Gc 2, 14-18). Hồng ân đức tin đi đôi với trách nhiệm xã hội về những điều mình tin. Trách nhiệm đó là trách nhiệm làm chứng cho niềm tin, làm cho hồng ân đức tin tỏa sáng trong môi trường xã hội và nghề nghiệp, đưa những giá trị Tin Mừng, giá trị nhân bản và đạo đức, vào trong đời sống văn hóa xã hội, kinh tế, chính trị. Nhằm góp phần làm cho nền giáo dục trên đất nước trở nên nhân bản và toàn diện hơn. Làm cho hệ thống luật lệ trở nên vị nhân sinh hơn, tôn trọng nhân quyền và nhân phẩm hơn. Làm cho đời sống xã hội trở nên trung thực và công bằng hơn, cùng chan hòa tình người và bác ái vị tha. Đặc biệt là làm cho việc tề gia và trị quốc trở nên thiên thời, địa lợi, nhân hòa hơn. Nhờ đó, nhà nhà được an lành, đất nước được an bình. Các thành phần, các giới công giáo, nhà trí thức, nhà thầy thuốc, nhà giáo, nhà buôn, nhà truyền thông, nhà hoạt động xã hội…, trước tiên cần nhìn lại xem mình đã xây những ngôi nhà đó trên nền đá vững chắc là Lời Chúa đến đâu ? Đã làm cho Lời Chúa dạy tỏa ra ánh sáng chân lý và tình yêu của Chúa trong môi trường xã hội đến đâu ? Nhiều người thành tâm tìm kiếm chân lý chung cuộc về sự hiện hữu của mình. Và Chúa Giêsu đã tự bày tỏ là Sự Thật chung cuộc đó, là Đường dẫn đến cội nguồn sự sống mới chan hòa yêu thương và bình an.
7. Năm Đức Tin là cơ hội cho mọi người đảm trách việc giáo dục đức tin, hội ý với nhau, tìm cách tạo thuận lợi cho các gia đình, cho cộng đoàn tín hữu, các tổ chức mục vụ cùng các tổ chức tông đồ giáo dân, đặc biệt là cho người trẻ, cùng nhau nhìn lại hiện trạng đời sống đức tin, hỗ trợ nhau mở rộng kiến thức đức tin và nâng cao ý thức đức tin, nhắc nhở nhau quan tâm cộng tác với ơn Chúa Thánh Thần khai thông, bổ sung, đổi mới, hoàn thiện đời sống đức tin, theo như lòng Chúa mong muốn và lòng người mong đợi. 8. Kết. Chuyên cần cầu nguyện vừa là nguồn nước trong lành vun tưới cho hạt mầm đức tin phát triển và đơm bông kết trái. Vừa là bí quyết thành công trong công việc giáo dục đức tin, cũng như trong công việc xây mới ngôi nhà Giáo Hội trên nền đá vững chắc là Lời Chúa, xây nên Giáo Hội Mầu Nhiệm -Hiệp Thông -Sứ Vụ, nơi đó người tín hữu có điều kiện và cơ hội sống trọn vẹn và tỏa sáng hồng ân đức tin. Xin mọi người, mọi gia đình, mọi cộng đoàn, không ngừng cầu nguyện cho nhau, cho các nhà giáo dục đức tin, cho tôi, biết sử dụng thời gian Năm Đức Tin như quà tặng của Cha trên trời, vì sự sống dồi dào, vì sự phát triển và thăng tiến cộng đồng dân Chúa cùng cộng đồng nhân loại hôm nay.
D. BƯỚC THEO CHÚA GIÊSU TRÊN CON ĐƯỜNG PHÚC ÂM HÓA ĐỜI SỐNG CON NGƯỜI
Đức Thánh Cha Bênêđitô XVI kêu gọi mọi người tín hữu quan tâm Phúc Âm hóa đời sống mình, hướng đến Phúc Âm hóa đời sống nhân loại hôm nay. Phúc Âm hóa, Tin Mừng hóa đời sống, có nghĩa là thực hành Lời Chúa dạy xây đắp ngôi nhà cuộc đời trên nền đá vững chắc là Lời Chúa. Lời Chúa là Lời ban ánh sáng chân lý và tình yêu, ban sức sống mới cùng sự bình an. Được xây trên nền tảng vững chắc là Lời Chúa, đời người sẽ chan hòa ánh sáng chân lý cùng tình yêu và sự bình an của Chúa. Chúa Giêsu cùng với Lời Chúa dạy đã mở ra con đường Phúc Âm hóa đời sống con người. Trong Năm Đức Tin với trọng tâm là giáo dục đức tin, linh mục, tu sĩ, giáo dân, trong gia đình, trong cộng đoàn, trong các tổ chức mục vụ giáo phận và giáo xứ, trong các tổ chức tông đồ giáo dân, mọi người hãy ý thức và quyết tâm cùng nhau học với Chúa và bước theo Chúa trên con đường Phúc Âm hóa đời sống con người. Con đường Phúc Âm hóa của Chúa Giêsu trải qua 5 chặng đường chính yếu và căn bản như sau.
1. Bước theo Chúa Giêsu tự hạ hòa nhập vào đời sống xã hội loài người, hiện diện trong mọi biến cố vui buồn, lo âu và hy vọng của con người, như dự tiệc cưới ở Cana, đám tang ở Naim, thăm thân mẫu lâm bệnh của Phêrô ở Capharnaum..., hiện diện với lòng từ bi nhân hậu, với tình yêu thương đồng cảm và phục vụ cho đời sống con người. Ngày hôm nay, Phúc Âm hóa các biến cố trong đời sống gia đình (như gia đình sum họp trong bữa ăn, trong giờ kinh...), trong đời sống văn hóa xã hội (như đám cưới, đám tang, họp mặt, lễ hội Ngày Tình Nhân, Ngày Người Cha, Ngày Người Mẹ. ..), có nghĩa là đưa ánh sáng Lời Chúa, đưa những giá trị Tin Mừng, những giá trị mang tính nhân bản, đạo đức, vào trong những biến cố đó, tạo điều kiện cho Chúa Giêsu hiện diện trong đời người, hiện diện như Lời ban ánh sáng chân lý cùng bình an, ban sức sống mới cùng tình yêu thương, cho những ai ý thức mở rộng lòng tin đón nhận.
2. Bước theo Chúa Giêsu lên núi, tìm đến cõi riêng tư, nâng cao tâm hồn, cho lòng trí thoát ra khỏi những lao xao của thế sự với những lo lắng và căng thẳng, để tâm an định đi vào cầu nguyện lắng nghe tiếng Chúa, giải bày tâm sự với Chúa, với quyết tâm tìm và thi hành ý định yêu thương cứu độ của Chúa trong mọi hoàn cảnh của cuộc đời. (x. Mc 9,2-8) Công việc giáo dục đức tin đòi hỏi những người trách nhiệm liên hệ tạo điều kiện, tạo cơ hội giúp cho mọi người trong gia đình cùng nhau chuyên cần bước theo Chúa Giêsu tìm đến cõi riêng tư, để tâm an định lắng nghe tiếng Chúa và tâm sự với Chúa, với quyết tâm mang ra thi hành ý Chúa trong đời sống gia đình và xã hội. Các giới, các tổ chức, các nhóm, cũng cần có điều kiện và cơ hội tĩnh tâm, cầu nguyện, trong bầu khí như thế.
3. Bước theo Chúa Giêsu xuống núi, cùng với Ngài đi vào cõi nhân sinh mang nặng những mối bận tâm và lo âu, với những nỗi đau buồn và hy vọng của con người, để học tập với Chúa đường lối yêu thương và phục vụ cho sự sống và sự thăng tiến con người, đồng thời để khi đối diện với những khó khăn thử thách, cùng những vấn đề nghiêm trọng trong cuộc sống xã hội hôm nay, ý thức làm theo Lời Chúa dạy: "Đừng sợ, hãy kiên trì cầu nguyện, không có gì là không thể đối với Thiên Chúa cùng các kẻ tin vào tình thương quyền năng của Thiên Chúa...".(x. Mc 9,14-29) Thông thường, khi con người đối diện với những nghịch cảnh, như mất mát, thì đau khổ và lo sợ, người thì phản ứng chống trả (như Phêrô), kẻ thì thỏa hiệp trục lợi (như Giuđa), kẻ khác thì bỏ cuộc (như 2 môn đệ về quê làng Êmau)..., không làm theo Lời Chúa dạy. Vì thế, công việc giáo dục đức tin cần đưa ánh sáng và sức sống của Lời Chúa vào trong suy nghĩ cùng hành động của con người, để họ ý thức và quyết tâm làm theo Lời Chúa dạy trong mọi tình cảnh thuận lợi cũng như bất trắc.
4. Bước theo Chúa Giêsu đến đồi Golgotha, năng đến với Ngài bên bàn thờ hiến tế, bên nhà tạm Chúa Thánh Thể thường xuyên hiện diện, để chiêm ngắm Chúa và học với Chúa yêu thương đến cùng, đến hiến thân, hiến cả mạng sống mình, vì sự sống mới cùng sự hợp nhất của gia đình nhân loại, đồng thời để lấy sức bước theo Chúa trên con đường bày tỏ một tình yêu thương không còn tình yêu nào lớn. Việc giáo dục đức tin đòi hỏi những người lo việc tổ chức cử hành Thánh Lễ, chầu Thánh Thể, tôn sùng Thánh Mẫu Maria cùng các thánh, ý thức vượt qua thói quen cùng khung nếp máy móc, tạo điều kiện cho mọi người tham dự vừa mở rộng lòng tin, vừa nâng cao tâm hồn trong bầu khí chan hòa sự an định cùng lòng từ bi nhân hậu. Đó là những điều kiện cần có để mọi người tham dự cảm nhận được sự hiện diện của Chúa Giêsu ở giữa họ, ban bình an cùng sức sống mới và tình yêu thương cho họ.
5. Bước theo Chúa Giêsu Phục Sinh lên núi cao đón nhận Chúa Thánh Thần là nguồn nước hằng sống, cùng xuống núi thông chia cho nhau hồng ân Thánh Thần, đề người người được Chúa Thánh Thần soi dẫn lòng tin, đánh động lòng mến, thúc đẩy lòng cậy, mở rộng lòng đạo. Thông thường lòng trí và tầm nhìn của con người bị thu hẹp, bị đóng khung trong nếp sống văn hóa của xã hội, của thời đại. Giáo dục đức tin là tạo điều kiện cho con người ý thức và quyết tâm cộng tác với Chúa Thánh Thần đổi mới lòng trí, mở rộng tầm nhìn của mình, trên con đường bước theo Chúa Giêsu đi đến nguồn sống mới. Kết. Lời Chúa và Chúa Thánh Thần là hai bàn tay Đấng Tạo Hóa dùng uốn nắn người cũ thành người mới theo hình mẫu Con Người Mới là Đức Giêsu Kitô. Hãy khiêm tốn tín thác tự đặt mình vào vòng tay của Thiên Chúa yêu thương tái tạo và đổi mới. Vai trò của Chúa Thánh Thần cùng với sự hợp tác với Ngài và với nhau mang tính quyết định trong việc Phúc Âm hóa đời sống. Vậy, trong việc giáo dục đức tin, hãy ý thức chung lòng chung sức tạo điều kiện cùng cơ hội cho mọi người hợp tác tích cực với Chúa và với nhau trong cộng đoàn, trong giáo xứ, trong giáo hạt, trong giáo phận. Cùng với lời cầu nguyện, đó là bí quyết giúp cho việc Phúc Âm hóa cũng như việc giáo dục đức tin mang lại hoa trái như lòng Chúa mong muốn và lòng người ước mong.
Đức Thánh Cha Bênêđitô XVI kêu gọi mọi người tín hữu quan tâm Phúc Âm hóa đời sống mình, hướng đến Phúc Âm hóa đời sống nhân loại hôm nay. Phúc Âm hóa, Tin Mừng hóa đời sống, có nghĩa là thực hành Lời Chúa dạy xây đắp ngôi nhà cuộc đời trên nền đá vững chắc là Lời Chúa. Lời Chúa là Lời ban ánh sáng chân lý và tình yêu, ban sức sống mới cùng sự bình an. Được xây trên nền tảng vững chắc là Lời Chúa, đời người sẽ chan hòa ánh sáng chân lý cùng tình yêu và sự bình an của Chúa. Chúa Giêsu cùng với Lời Chúa dạy đã mở ra con đường Phúc Âm hóa đời sống con người. Trong Năm Đức Tin với trọng tâm là giáo dục đức tin, linh mục, tu sĩ, giáo dân, trong gia đình, trong cộng đoàn, trong các tổ chức mục vụ giáo phận và giáo xứ, trong các tổ chức tông đồ giáo dân, mọi người hãy ý thức và quyết tâm cùng nhau học với Chúa và bước theo Chúa trên con đường Phúc Âm hóa đời sống con người. Con đường Phúc Âm hóa của Chúa Giêsu trải qua 5 chặng đường chính yếu và căn bản như sau.
1. Bước theo Chúa Giêsu tự hạ hòa nhập vào đời sống xã hội loài người, hiện diện trong mọi biến cố vui buồn, lo âu và hy vọng của con người, như dự tiệc cưới ở Cana, đám tang ở Naim, thăm thân mẫu lâm bệnh của Phêrô ở Capharnaum..., hiện diện với lòng từ bi nhân hậu, với tình yêu thương đồng cảm và phục vụ cho đời sống con người. Ngày hôm nay, Phúc Âm hóa các biến cố trong đời sống gia đình (như gia đình sum họp trong bữa ăn, trong giờ kinh...), trong đời sống văn hóa xã hội (như đám cưới, đám tang, họp mặt, lễ hội Ngày Tình Nhân, Ngày Người Cha, Ngày Người Mẹ. ..), có nghĩa là đưa ánh sáng Lời Chúa, đưa những giá trị Tin Mừng, những giá trị mang tính nhân bản, đạo đức, vào trong những biến cố đó, tạo điều kiện cho Chúa Giêsu hiện diện trong đời người, hiện diện như Lời ban ánh sáng chân lý cùng bình an, ban sức sống mới cùng tình yêu thương, cho những ai ý thức mở rộng lòng tin đón nhận.
2. Bước theo Chúa Giêsu lên núi, tìm đến cõi riêng tư, nâng cao tâm hồn, cho lòng trí thoát ra khỏi những lao xao của thế sự với những lo lắng và căng thẳng, để tâm an định đi vào cầu nguyện lắng nghe tiếng Chúa, giải bày tâm sự với Chúa, với quyết tâm tìm và thi hành ý định yêu thương cứu độ của Chúa trong mọi hoàn cảnh của cuộc đời. (x. Mc 9,2-8) Công việc giáo dục đức tin đòi hỏi những người trách nhiệm liên hệ tạo điều kiện, tạo cơ hội giúp cho mọi người trong gia đình cùng nhau chuyên cần bước theo Chúa Giêsu tìm đến cõi riêng tư, để tâm an định lắng nghe tiếng Chúa và tâm sự với Chúa, với quyết tâm mang ra thi hành ý Chúa trong đời sống gia đình và xã hội. Các giới, các tổ chức, các nhóm, cũng cần có điều kiện và cơ hội tĩnh tâm, cầu nguyện, trong bầu khí như thế.
3. Bước theo Chúa Giêsu xuống núi, cùng với Ngài đi vào cõi nhân sinh mang nặng những mối bận tâm và lo âu, với những nỗi đau buồn và hy vọng của con người, để học tập với Chúa đường lối yêu thương và phục vụ cho sự sống và sự thăng tiến con người, đồng thời để khi đối diện với những khó khăn thử thách, cùng những vấn đề nghiêm trọng trong cuộc sống xã hội hôm nay, ý thức làm theo Lời Chúa dạy: "Đừng sợ, hãy kiên trì cầu nguyện, không có gì là không thể đối với Thiên Chúa cùng các kẻ tin vào tình thương quyền năng của Thiên Chúa...".(x. Mc 9,14-29) Thông thường, khi con người đối diện với những nghịch cảnh, như mất mát, thì đau khổ và lo sợ, người thì phản ứng chống trả (như Phêrô), kẻ thì thỏa hiệp trục lợi (như Giuđa), kẻ khác thì bỏ cuộc (như 2 môn đệ về quê làng Êmau)..., không làm theo Lời Chúa dạy. Vì thế, công việc giáo dục đức tin cần đưa ánh sáng và sức sống của Lời Chúa vào trong suy nghĩ cùng hành động của con người, để họ ý thức và quyết tâm làm theo Lời Chúa dạy trong mọi tình cảnh thuận lợi cũng như bất trắc.
4. Bước theo Chúa Giêsu đến đồi Golgotha, năng đến với Ngài bên bàn thờ hiến tế, bên nhà tạm Chúa Thánh Thể thường xuyên hiện diện, để chiêm ngắm Chúa và học với Chúa yêu thương đến cùng, đến hiến thân, hiến cả mạng sống mình, vì sự sống mới cùng sự hợp nhất của gia đình nhân loại, đồng thời để lấy sức bước theo Chúa trên con đường bày tỏ một tình yêu thương không còn tình yêu nào lớn. Việc giáo dục đức tin đòi hỏi những người lo việc tổ chức cử hành Thánh Lễ, chầu Thánh Thể, tôn sùng Thánh Mẫu Maria cùng các thánh, ý thức vượt qua thói quen cùng khung nếp máy móc, tạo điều kiện cho mọi người tham dự vừa mở rộng lòng tin, vừa nâng cao tâm hồn trong bầu khí chan hòa sự an định cùng lòng từ bi nhân hậu. Đó là những điều kiện cần có để mọi người tham dự cảm nhận được sự hiện diện của Chúa Giêsu ở giữa họ, ban bình an cùng sức sống mới và tình yêu thương cho họ.
5. Bước theo Chúa Giêsu Phục Sinh lên núi cao đón nhận Chúa Thánh Thần là nguồn nước hằng sống, cùng xuống núi thông chia cho nhau hồng ân Thánh Thần, đề người người được Chúa Thánh Thần soi dẫn lòng tin, đánh động lòng mến, thúc đẩy lòng cậy, mở rộng lòng đạo. Thông thường lòng trí và tầm nhìn của con người bị thu hẹp, bị đóng khung trong nếp sống văn hóa của xã hội, của thời đại. Giáo dục đức tin là tạo điều kiện cho con người ý thức và quyết tâm cộng tác với Chúa Thánh Thần đổi mới lòng trí, mở rộng tầm nhìn của mình, trên con đường bước theo Chúa Giêsu đi đến nguồn sống mới. Kết. Lời Chúa và Chúa Thánh Thần là hai bàn tay Đấng Tạo Hóa dùng uốn nắn người cũ thành người mới theo hình mẫu Con Người Mới là Đức Giêsu Kitô. Hãy khiêm tốn tín thác tự đặt mình vào vòng tay của Thiên Chúa yêu thương tái tạo và đổi mới. Vai trò của Chúa Thánh Thần cùng với sự hợp tác với Ngài và với nhau mang tính quyết định trong việc Phúc Âm hóa đời sống. Vậy, trong việc giáo dục đức tin, hãy ý thức chung lòng chung sức tạo điều kiện cùng cơ hội cho mọi người hợp tác tích cực với Chúa và với nhau trong cộng đoàn, trong giáo xứ, trong giáo hạt, trong giáo phận. Cùng với lời cầu nguyện, đó là bí quyết giúp cho việc Phúc Âm hóa cũng như việc giáo dục đức tin mang lại hoa trái như lòng Chúa mong muốn và lòng người ước mong.
Kinh Năm Đức Tin (HĐGM Hoa Kỳ)
Lạy Thiên Chúa là Cha trên trời,Nguyện xin Chúa tuôn đổ Thánh Thần / tác động Lời Chúa trong lòng con / khơi dậy lòng khát khao canh tân đức tin / và liên kết với Con Chúa là Đức Giêsu Kitô/ để con thật lòng tin tưởng và sống Tin Mừng của Người.Xin Chúa mở lòng trí và ban ơn vững tin / để con có thể công bố Tin Mừng cho tất cả mọi người. Xin ban tràn đầy Thần Khí Chúa / giúp con mạnh dạn tiến bước và làm chứng Tin Mừng / bằng cả lời rao giảng và hành động / suốt mọi ngày trong đời sống con.Những khi ngại ngùng / xin Chúa dạy cho con biết / ngoài con ra / ai sẽ là người loan báo Tin Mừng của Chúa? Nếu không thực hiện bây giờ / thì con còn chờ đến bao giờ? Và con sẽ công bố điều gì khác / nếu không phải là chân lý Tin Mừng của Chúa? Lạy Thiên Chúa là Cha chúng con / nhờ Chúa Thánh Thần / xin cho con biết lắng nghe lời mời gọi canh tân hóa Tin Mừng / để sống đức tin cách sâu xa / vững vàng công bố Tin Mừng / và dũng cảm làm chứng cho hồng ân cứu độ của Con Chúa / là Đức Giêsu Kitô, Đấng hằng sống và hiển trị cùng Chúa / trong sự hiệp nhất của Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời. Amen


0 nhận xét:
Đăng nhận xét
Thêm lời bình để góp ý cho blog ngày càng hoàn thiện hơn!